Tuantdt's Blog

Tuantdt's Space – Nơi chia sẻ những gì tớ muốn sẻ chia

Posts Tagged ‘tienghoa’

CÁC PHẦN MỀM HỖ TRỢ CHO TIẾNG HOA & WIN & WEB

Đăng bởi tuantdt on 2009/10/03

搜狗拼音输入法 Ver.4.2

Đây là phần mềm đánh tiếng Hoa thông minh nhất, đang được sử dụng phổ biến

Khi cài đặt thành công, bạn chuyển đổi qua lại giữa các chế độ gõ bằng phím Ctr+Space bar

LINK LOAD FILE

- http://www.mediafire.com/?kzg0jdzmygy

SKINS FOR SOGOU

- http://pinyin.sogou.com/skins/index.php

 

GOOGLE KEYBOARD

Bản dùng cho Window XP và Vista

LINK LOAD FILE

- http://www.mediafire.com/?3o2gykzyyyk

 

FILE CÀI ĐẶT FONT TIẾNG HOA CHO WEB

GIẢN THỂ

- http://www.mediafire.com/?81hmxxgxzx3

PHỒN THỂ

- http://www.mediafire.com/?2yyzmt1wjxz

 

CHƯƠNG TRÌNH XEM TRUYỀN HÌNH CÁP

VÀ NHỮNG TIỆN ÍCH VIDEO ONLINE

UUSEE TV ONLINE

Có thể xem các đài truyền hình cáp của TQ & các chương trình giải trí khác như film điện ảnh, film truyền hình nhiều tập, chương trình giải trí văn hóa … Có thể download làm tài liệu để riêng trong máy tính của bạn.

LINK LOAD FILE

- http://www.mediafire.com/?tmygxzwvzyh

 

MỘT SỐ PHẦN MỀM HỖ TRỢ

CHO VIỆC DOWNLOAD CÁC FILE TRONG BLOG

FLASHGET

- http://www.mediafire.com/?wy4rxmxyrjz

FILE DIXVVIDEO (MEPG, AVII, MP4, WMV) FOR WINDOW MEDIA PLAYER

- http://www.mediafire.com/?wgzgv3j2dji

JET AUDIO (ĐỌC CÁC FILE VIDEO ĐỊNH DẠNG KHÓ)

http://www.mediafire.com/?nmjmqzgl4oy

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , , | 4 phản hồi »

LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HOA 量词

Đăng bởi tuantdt on 2009/10/03

DANH LƯỢNG TỪ
 
把 [bă] (刀子,尺,牙刷,梳子,钥匙,伞,椅子)
杯 [bèi] (水,牛奶,咖啡,茶,酒)
本 [běn] (书,杂志,画报,词典,字典,小说,地图)
册 [cè] (书)
层 [céng] (楼,台阶,奶油,皮儿)
 
打 [dá] (纸)
滴 [dī] (水,油,酒,眼目)
点 [diăn] (水,酒,东西,事)
顶 [díng] (帽子)
段 [duàn] (路,时间,文章,话)
堆 [duī] (东西,粮食,草,木头,煤)
队 [duì] (战士)
对 [duì] (花瓶,沙龙,枕头)
吨 [dùn] (钢,煤,大米,花生)
朵 [duŏ] (花,云)
封 [fēng] (信,电报)
副 [fù] (手套,眼镜)
 
个 [gè] (人,学生,朋友,同志,学校,医院,国家,书架,面包,杯子,碗,汉字,符号)
根 [gēn] (竹子,棍子,针)
公尺 [gōngchĭ] (布)
公斤 [gōngjīn] (水)
公里 [gònglĭ] (路)
公顷 [gòngqĭng] (土地,地)
行 [háng] (字)
户 [hù] (人家)
 
架 [jiā] (机器,飞机)
间 [jiān] (屋子,房子,病房)
件 [jiàn] (衣服,毛衣,衬衫,大衣,上衣,行李,事情)
届 [jiè] (会)
句 [jù] (话,汉语,英语)
 
克 [kè] (糖,水果,点心,金子)
棵 [kè] (树,草,白菜)
颗 [kē] (星,心,子弹)
课 [kè] (书,课文)
口 [kŏu] (人,井,猪)
块 [kuài] (钱,糖,面包,点心,毛衣,毛绢,肥皂,黑板)
类 [lèi] (人,问题)
粒 [lì] (种子,子弹)
列 [liè] (火车)
辆 [liàng] (车,汽车,自行车,摩托车,坦克)
 
米 [mì] (布)
面 [miàn] (镜子)
名 [míng] (学生,记者)
幕 [mù] (剧,话剧,歌剧)
排 [pái] (人,树,房子)
批 [pì] (货,产品)
匹 [pĭ] (马,布,绸子)
篇 [piān] (文章,论文)
片 [piàn] (肉,面包,药,草地,树林)
平方公里 [píngfānggōnglĭ] (地,土地)
瓶 [pĭng] (啤酒,香水)
 
群 [qún] (孩子,羊,鸭)
首 [shŏu] (歌,诗)
双 [shuàng] (鞋,袜子,筷子,手)
所 [suŏ] (学校,医院)
 
台 [tái] (机器,打字机)
套 [tào] (衣服,房子,家具,房间)
条 [tiáo] (鱼,狗,黄瓜,毛巾,床单,船,路,裙子,腿,裤子)
筒 [tŏng] (牙膏,鞋油)
头 [tóu] (牛,骆驼)
位 [wèi] (老人,先生,专家,英雄,模范,朋友,客人)
项 [xiàng] (任务,建议,工程)
样 [yāng] (点心,东西)
页 [yè] (书,纸)
 
张 [zhāng] (纸,报,画儿,票,邮票,照片,桌子,床,嘴,脸)
支 [zhì] (笔,钢笔,毛笔,铅笔,圆珠笔,粉笔,枪,歌)
只 [zhì] (猫,狼,鸡,鸽子,眼睛,耳朵,箱子,手,脚)
种 [zhŏng] (布,锻子,水果,蔬菜,事情,东西,人,意见)
幢 [zhuàng] (房子)
座 [zuò] (山,楼,城市,桥,宫殿,庙,塔,宾馆)

 

 
ĐỘNG LƯỢNG TỪ
遍 [biàn] (看,说,写,念,听,抄,翻译)

场 [chăng] (下雨,打球)

次 [cì] (去,找,来,参,观)

 
顿 [dùn] (持,打,骂)

回 [huí] (看,送)

趟 [tàng] (去,来)

下儿 [xiàr] (打,敲,摇,想,玩,讨论)

阵 [zhèn] (刮风)

 

Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

CÁCH TRA TỪ ĐIỂN

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

Các cách tra chữ

 

1- Tra theo âm Hán-Việt: Các TĐ Hán ngữ (sách) có thể sắp xếp thẳng các mục từ chữ Hán theo âm Hán-Việt (như Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh, Hán-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn, Hán-Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng, v.v…); nếu sắp theo bộ thủ thì cũng có bảng tra theo âm Hán-Việt và âm pinyin (thí dụ Từ điển Hán-Việt của Trần Văn Chánh). Trong số các TĐ Hán-Việt hiện nay, bộ của Nguyễn Quốc Hùng có ưu điểm là phiên phiết chính xác âm Hán-Việt đồng thời ghi chú thêm cách đọc sai phổ thông.

 

2- Tra theo bộ thủ (thí dụ Khang Hi tự điển, Từ Hải, Từ Nguyên, v.v…): Bộ thủ là một yếu tố quan trọng của Hán tự, giúp việc tra cứu Hán tự tương đối dễ dàng vì nhiều chữ được gom thành nhóm có chung một bộ thủ. Từ đời Hán, Hứa Thận 許慎 phân loại chữ Hán thành 540 nhóm hay còn gọi là 540 bộ. Thí dụ, những chữ , , đều liên quan tới ngôn ngữ, lời nói, đàm luận v.v… nên được xếp chung vào một bộ, lấy bộ phận (ngôn) làm bộ thủ (cũng gọi là «thiên bàng» 偏旁). Đến đời Minh, Mai Ưng Tộ 梅膺祚 xếp gọn lại còn 214 bộ thủ và được dùng làm tiêu chuẩn cho đến nay. Phần lớn các bộ thủ của 214 bộ đều là chữ tượng hình và hầu như dùng làm bộ phận chỉ ý nghĩa trong các chữ theo cấu tạo hình thanh (hay hài thanh). Mỗi chữ hình thanh gồm bộ phận chỉ ý nghĩa (hay nghĩa phù 義符 ) và bộ phận chỉ âm (hay âm phù 音符 ). Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ thủ là một điều kiện thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự. Hai bước thao tác:

(a) Trước hết ta xác định bộ thủ của chữ Hán mà ta cần tra; xem bộ thủ ấy ở trang mấy.

(b) Rồi đếm xem số nét còn lại. Trong phần bộ thủ ấy, ta dò tìm chỗ có số nét còn lại tương ứng.

Thí dụ chữ thuộc bộ ngôn ; số nét còn lại là 8; nơi (bộ ngôn + 8 nét) ta sẽ gặp chữ .

Xác định bộ thủ không phải là việc dễ dàng. Từ khi xuất hiện TĐ chữ giản thể thì bộ thủ trở thành vấn đề rắc rối. Thí dụ chữ điện 電 phồn thể thuộc bộ 雨; nhưng chữ giản thể của nó là 电 thì Tân Hoa Tự Điển cho vào bộ ất , còn Từ Hải (bộ mới) thì cho vào bộ viết , còn Hiện Đại Hán Ngữ Từ Điển thì cho vào bộ điền 田.

 

3- Tra theo âm pinyin và tổng số nét bút: Để giải quyết vấn đề rắc rối của bộ thủ, đa số TĐ Hán ngữ của Trung Quốc hiện nay sắp các mục từ theo âm pinyin; bên cạnh đó họ đính kèm các bảng tra theo tổng số nét và bộ thủ. Nếu không biết âm pinyin của chữ cần tra thì ta có thể tra theo tổng số nét bút. Các chữ Hán có cùng tổng số nét bút được xếp vào một nhóm. Trong nhóm đó chúng lại được sắp theo nét bút đầu tiên. Nét bút đầu tiên thuộc về một trong 5 dạng sau (gọi là ngũ bút): 一 丨丿丶乛.

- nhóm nét 一 : các chữ có nét đầu tiên là nét ngang, thí dụ: 奉 , 武 , 期 , 恭 , 雨 , v.v…

- nhóm nét : các chữ có nét đầu tiên là nét sổ, thí dụ: 师 , 曲 , 步 , 非 , 幽 , v.v…

- nhóm nét 丿 : các chữ có nét đầu tiên là nét phẩy, thí dụ: 拜 , 生 , 香 , 岳 , 程 , v.v…

- nhóm nét : các chữ có nét đầu tiên là nét chấm, thí dụ: 高 , 立 , 半 , 为 , 州 , v.v…

- nhóm nét 乛 : các chữ có nét đầu tiên là nét gẫy, thí dụ: 民 , 费 , 弗 , 能 , 群 , v.v…

Đề phòng đếm nhầm tổng số nét của một chữ Hán, ta phải tính sai số ± 1.

Trong bài 500 chữ Hán cơ bản, dựa vào cách viết chữ (tả pháp) chúng ta đã biết phân tích đếm tổng số nét bút và nhận ra nét bút đầu tiên, nên ở đây không cần nói đến nữa.

 

4- Còn một cách tra chữ Hán nữa, gọi là tứ giác hiệu mã 四 角 號 碼 do Vương Vân Ngũ 王 雲 五 phát minh (thí dụ quyển Từ Vị của Đài Loan có dùng cách tra này). Cách tra chữ này cũng rất hay, nhưng ngày nay rất ít dùng trong các TĐ Hán ngữ của Trung Quốc.

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

TỔNG QUAN VỀ TIẾNG HOA

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

Phát âm Bắc Kinh với phiên âm Pīnyīn

Mỗi chữ Hán (Hán tự ) được phát ra bằng một âm tiết (syllable). Nói đơn giản, âm thanh nổ ra một phát thì kể là một âm tiết. Thí dụ, từ « » (Hán ngữ) gồm hai chữ , được phát ra bằng hai âm tiết hàn và yǚ.

 

Để ghi âm của chữ Hán, người ta dùng hệ thống phiên âm. Có nhiều hệ phiên âm chữ Hán, nhưng hiện nay hệ phiên âm pīnyīn (bính âm ) của Bắc Kinh được xem là tiêu chuẩn. Thí dụ: chữ được phiên âm là hàn, chữ được phiên âm là yǚ.

 

Một âm tiết gồm ba yếu tố: 1- phụ âm đầu (thanh mẫu ), 2- vần (vận mẫu ), 3- thanh (thanh điệu 調 ). Thí dụ:

- chữ được phiên âm là hàn, âm tiết này có phụ âm đầu là h- , vần là -an , thanh là \.

- chữ được phiên âm là yǚ, âm tiết này không có phụ âm đầu, chỉ có vần là yü , thanh là v.

 

chữ Hán
phiên âm Hán Việt
phiên âm pinyin
phụ âm đầu (thanh mẫu)
vần
(vận mẫu)
thanh (thanh điệu)
đọc như
tiếng Việt
 
HÁN
hàn
h-
-an
\
hán  
 
NGỮ
(không có)
v
duỳ  

 

(Chú ý: Một âm tiết có thể không có phụ âm đầu ; nhưng bắt buộc phải có vần và thanh)

 

THANH (thanh điệu 調 )

 

Chữ Hán có 5 thanh, ký hiệu là: – , / , v , \ ,.. Thí dụ: âm tiết ma (đọc như ma trong tiếng Việt) gắn thêm thanh điệu sẽ là: mā , má , mǎ , mà , mạ. Trong một số từ điển Hán ngữ và sách giáo khoa dạy Hán ngữ, vì lý do kỹ thuật, người ta thay thế 5 ký hiệu trên bằng các con số: ma1 (= mā ), ma2 (= má ), ma3 (= mǎ ), ma4 (= mà ), ma hay ma5 (= mạ ).

 

- mā

- má

- mǎ

- mà

- ma

 

Luật biến đổi thanh điệu:  

(1) Hai thanh v kế nhau, thì thanh v trước biến thành /. Tức là v + v = / + v. Thí dụ: 

- nǐ hǎo đọc là ní hǎo (chào anh/chị).  

- hěn hǎo đọc là hén hǎo (rất tốt/khoẻ). 

- yǒng yuǎn đọc là yóng yuǎn (vĩnh viễn). 

(2) Ba thanh v kế nhau, thì hai thanh v trước biến thành /. Tức là v + v + v = / + / + v. Thí dụ: 

- zǒng lǐ fǔ đọc là zóng lí fǔ (phủ thủ tướng).  

- zhǎn lǎn guǎn đọc là zhán lán guǎn (nhà triển lãm).

Ì PHỤ ÂM

b p m f

d t l n

g k h

j q x

z c s

zh ch sh r

 

Ì NGUYÊN ÂM

a e o i u ü –er –i

ai ei ao ou an en ang eng ong

–ia –ie –iao –iou –ian –iang –in –ing –iong

à ya ye yao you yan yang yin ying yong

–ua –uo –uai –uei –uan –uen –uang –ueng

à wa wo wai wei wan wen wang weng

–üe –üan –ün

à yue yuan yun

 

Ì BẢNG PHỐI HỢP

 

B – ba bo bai bei bao ban ben bang bi biao bie bian bin bing bu

P – pa po pai pei pao pou pan pen pang peng pi piao pie pian pin ping pu

M – ma mo me mai mei mao mou man men mang meng mi miao mie miu mian min ming mu

F – fa fo fei fou fan fen fang feng fu

 

D – da de dai dei dao dou dan den dang deng dong di diao die diu dian ding du duo dui duan dun

T – ta te tai tao tou tan tang teng tong ti tiao tie tian ting tu tuo tui tuan tun

N – na ne nai nei nao nan nen nang neng nong ni niao nie niu nian nin niang ning nu nuo nuan nü nüe

L – la le lai lei lao lou lan lang leng long li lia liao lie liu lian liang ling lu luo luan lun lü lüe

 

G – ga ge gai gei gao gou gan gen gang geng gong gu gua guo guai gui guan guang

K – ka ke kai kei kao kou kan ken kang keng kong ku kua kuo kuai kui kuan kuang

H – ha he hai hei hao hou han hen hang heng hong hu hua huo huai hui huan hun huang

 

J – ji jia jiao jie jiu jian jin jiang jing jiong ju jue juan jun

Q – qi qia qiao qie qiu qian qin qiang qing qiong qu que quan qun

X – xi xia xiao xie xiu xian xin xiang xing xiong xu xue xuan xun

 

Z – za ze zai zei zao zou zan zen zang zeng zong zu zuo zui zuan zun

C – ca ce ci cai cao cou can cen cang ceng cong cu cuo cui cuan cun

S – sa se si sai sao sou san sen sang seng song su suo sui suan sun

R – re ri rao rou ran ren rang reng rong ru ruo rui ruan run

 

ZH – zha zhe zhi zhai zhei zhao zhou zhan zhen zhang zheng zhong zhu zhua zhuo zhuai zhui zhuan zhun zhuang

CH – cha che chi chai chao chou chan chen chang cheng chong chu chua chuo chuai chui chuan chun chuang

SH – sha she shi shai shei shao shou shan shen shang sheng shu shuo shuai shui shuan shun shuang

.

 QUI TẮC VIẾT CHỮ HÁN

  

Trừ vài ngoại lệ, qui tắc chung là từ trái qua phải; từ trên xuống dưới; từ ngoài vào trong.

1. Ngang trước sổ sau: , , , , , .

2. Phết () trước, mác ( ) sau: , , , .

3. Từ trái qua phải: , , , , , , , .

4. Từ trên xuống dưới: , , , , , .

5. Từ ngoài vào trong: , , , , , , .

6. Bộ 廴 viết sau cùng: , , , , , .

7. Giữa trước; trái rồi phải: , , , , , .

8. Vào nhà, đóng cửa: , , , , , .

 

.

KẾT CẤU CHỮ HÁN

 

 

1. Trái–phải: , , , , , , . , , .

 

2. Trên–dưới: , , , , , , , , .

 

3. Ngoài–trong: , , , , , , , , .

 

4. Trái–giữa–phải: , , , , , , , .

 

5. Trên–giữa–dưới: , , , , , , , .

 

6. Trên–phải trên–phải dưới: , , , , , .

 

7. Trên–dưới trái–dưới phải: , , , , , .

 

8. Trên trái–trên phải–dưới: , , , , , , .

 

9. Góc dưới trái–góc trên phải: , , , , , .

 

10. Liên thể: , , , , , , , , .

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

NGỮ PHÁP CƠ BẢN – MỘT SỐ CẤU TRÚC CÂU

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

CẤU TRÚC 1: 名词谓语句 (câu có vị ngữ là danh từ) 

* Cấu trúc: «chủ ngữ+vị ngữ». Trong đó thành phần chủ yếu của vị ngữ có thể là: danh từ, kết cấu danh từ, số lượng từ. Vị ngữ này mô tả thời gian, thời tiết, tịch quán, tuổi tác, số lượng, giá cả, đặc tính, v.v… của chủ ngữ. Thí dụ: 

今天 十月八号星期日。Hôm nay Chủ Nhật, ngày 8 tháng 10.  

现在 几点?现在 十点五分。 Bây giờ mấy giờ? Bây giờ 10 giờ 5 phút. 

哪儿人?我 河内人。Anh người địa phương nào? Tôi người Hà Nội. 

多大?他 三十九岁。Ông ấy bao tuổi rồi? Ông ấy 39 tuổi. 

这件 多少钱?这件 八十块钱。Cái này bao nhiêu tiền? Cái này 80 đồng. 

* Mở rộng:

a/ Ta có thể chèn thêm trạng ngữ 状语:

今年 二十三岁了。Cô ấy năm nay đã 23 tuổi rồi.

今天 已经 九月二号了。Hôm nay đã 2 tháng 9 rồi.

b/ Ta thêm « 不是 » để tạo thể phủ định:

不是 河内人。我是西贡人。Tôi không phải người Hà Nội, mà là dân Saigon.

他今年二十三岁, 不是 二十九岁。Anh ấy năm nay 23 tuổi, không phải 39 tuổi.

 

CẤU TRÚC 2: 形容词谓语句 (câu có vị ngữ là hình dung từ)

*Cấu trúc: «chủ ngữ+vị ngữ». Trong đó thành phần chủ yếu của vị ngữ là hình dung từ nhằm mô tả đặc tính, tính chất, trạng thái của chủ ngữ. Thí dụ:

这个教室 大。Phòng học này lớn.

你的中文书 多。Sách Trung văn của tôi (thì) nhiều.

*Mở rộng:

a/ Ta thêm « » để nhấn mạnh:

我的学校 很大。Trường tôi rất lớn.

b/ Ta thêm « » để phủ định:

我的学校 大。Trường tôi không lớn.

我的学校 不很大。Trường tôi không lớn lắm.

c/ Ta thêm « » ở cuối câu để tạo câu hỏi:

你的学校 吗?Trường anh lớn không?

d/ Ta dùng «hình dung từ + + hình dung từ» để tạo câu hỏi:

你的学校 不大?Trường anh lớn không? (= 你的学校 吗?)

CẤU TRÚC 4: 主谓谓语句 (câu có vị ngữ là cụm chủ-vị)

*Cấu trúc: «chủ ngữ+vị ngữ». Trong đó vị ngữ là (chủ ngữ*+vị ngữ*). Thí dụ:

他身体很好。Nó sức khoẻ rất tốt.

我头痛。Tôi đầu đau (= tôi đau đầu).

Có thể phân tích cấu trúc này theo: «chủ ngữ + vị ngữ», trong đó chủ ngữ là một ngữ danh từ chứa « »:

他的身体 很好。Sức khoẻ nó rất tốt.

我的头 痛。Đầu tôi đau.

 

CẤU TRÚC 5: « » 字句 (câu có chữ )

*Cấu trúc: Loại câu này để phán đoán hay khẳng định:

这是书。Đây là sách.

我是越南人。Tôi là người Việt Nam.

他是我的朋友。Hắn là bạn tôi.

*Mở rộng:

a/ Chủ ngữ + « » + (danh từ / đại từ nhân xưng / hình dung từ) + « »:

这本书是李老师的。Sách này là của thầy Lý.

那个是我的。Cái kia là của tôi.

这本画报是新的。Tờ báo ảnh này mới.

b/ Dùng « » để phủ định:

他不是李老师。他是王老师。 Ông ấy không phải thầy Lý, mà là thầy Vương.

c/ Dùng « » để tạo câu hỏi:

这本书是李老师吗?Sách này có phải của thầy Lý không?

d/ Dùng « 是不是 » để tạo câu hỏi:

这本书是不是李老师?Sách này có phải của thầy Lý không? (= 这本书是李老师吗?)

CẤU TRÚC 6: « » 字句 (câu có chữ )

Cách dùng:

1* Ai cái gì (→ sự sở hữu):

我有很多中文书。Tôi có rất nhiều sách Trung văn.

2* Cái gì gồm có bao nhiêu:

一年有十二个月, 五十二个星期。一星期有七天。Một năm có 12 tháng, 52 tuần lễ. Một tuần có bảy ngày.

3* Hiện có (= tồn tại) ai/cái gì:

屋子里没有人。Không có ai trong nhà.

图书馆里有很多书, 也有很多杂志和画报。Trong thư viện có rất nhiều sách, cũng có rất nhiều tạp chí và báo ảnh.

4* Dùng kê khai (liệt kê) xem có ai/cái gì:

操场上有打球的, 有跑步的, 有练太极拳的。Ở sân vận động có người đánh banh, có người chạy bộ, có người tập Thái cực quyền.

5* Dùng « 没有 » để phủ định; không được dùng « 不有 » :

我没有钱。 Tôi không có tiền.

 

CẤU TRÚC 7: 连动句 (câu có vị ngữ là hai động từ)

Hình thức chung: Chủ ngữ+ động từ1 + (tân ngữ) + động từ2 + (tân ngữ).

我们汉语谈话。Chúng tôi dùng Hán ngữ [để] nói chuyện.

我要去公园Tôi muốn đi công viên chơi.

他坐飞机去北京了。Anh ấy đi máy bay đến Bắc Kinh.

他握着我的手说: «很好, 很好。» Hắn nắm tay tôi nói: «Tốt lắm, tốt lắm.»

我有几个问题要问你。Tôi vài vấn đề muốn hỏi anh.

我每天有时间锻炼身体。Mỗi ngày tôi đều thời gian rèn luyện thân thể.

 

CẤU TRÚC 8: 兼语句 (câu kiêm ngữ)

*Hình thức: Chủ ngữ1 + động từ1+ (tân ngữ của động từ1 và là chủ ngữ động từ2) + động từ2 + (tân ngữ của động từ2). Thí dụ:

他叫 告诉 这件事。Nó bảo tôi nói cho anh biết chuyện này.

( là tân ngữ của mà cũng là chủ ngữ của 告诉; động từ 告诉 có hai tân ngữ: là tân ngữ gián tiếp và 这件事 là tân ngữ trực tiếp.)

*Đặc điểm:

a/ «Động từ1» ngụ ý yêu cầu hay sai khiến, thường là: , , , 使, , , , , 要求, 请求, v.v…

我请他明天晚上到我家。Tôi mời anh ấy chiều mai đến nhà tôi.

b/ Để phủ định cho cả câu, ta đặt hay trước «Động từ1».

他不让我在这儿等他。Hắn không cho tôi chờ hắn ở đây.

我们没请他来, 是他自己来的。Chúng ta có mời hắn đến đâu, là hắn tự đến đấy.

c/ Trước «động từ2» ta có thể thêm hay 不要.

他请大家不要说话。Hắn yêu cầu mọi người đừng nói chuyện.

CẤU TRÚC 9: 把字句 (câu có chữ )

*Hình thức: «chủ ngữ + (+ tân ngữ) + động từ». Chữ báo hiệu cho biết ngay sau nó là tân ngữ.

他们 病人 送到医院去了。Họ đã đưa người bệnh đến bệnh viện rồi.

我已经把课文念的很熟了。Tôi đã học bài rất thuộc.

* Trong câu sai khiến, để nhấn mạnh, chủ ngữ bị lược bỏ:

快把门关上。 Mau mau đóng cửa lại đi.

*Đặc điểm:

a/ Loại câu này dùng nhấn mạnh ảnh hưởng hay sự xử trí của chủ ngữ đối với tân ngữ. Động từ được dùng ở đây hàm ý: «khiến sự vật thay đổi trạng thái, khiến sự vật dời chuyển vị trí, hoặc khiến sự vật chịu sự tác động nào đó».

他把那把椅子搬到外边去了。Nó đã đem cái ghế đó ra bên ngoài. (chữ thứ nhất là để báo hiệu tân ngữ; chữ thứ hai là lượng từ đi với 那把椅子: cái ghế đó.)

b/ Loại câu này không dùng với động từ diễn tả sự chuyển động.

Phải nói: 学生进教室去了。 Học sinh đi vào lớp.

Không được nói: 学生把教室进去了。

c/ Tân ngữ phải là một đối tượng cụ thể đã biết, không phải là đối tượng chung chung bất kỳ.

我应该把这篇课文翻译成英文。Tôi phải dịch bài học này ra tiếng Anh.

你别把衣服放在那儿。Anh đừng để quần áo ở đó chứ.

d/ Dùng để nhấn mạnh sự xử trí/ảnh hưởng.

你把雨衣带, 看样子马上会下雨的。Anh đem theo áo mưa đi, có vẻ như trời sắp mưa ngay bây giờ đấy.

我把那本汉越词典买Tôi mua quyển từ điển Hán Việt đó rồi.

e/ Trước ta có thể đặt động từ năng nguyện (, , 应该), phó từ phủ định (, , ), từ ngữ chỉ thởi gian 已经, 昨天

我应该把中文学好。Tôi phải học giỏi Trung văn.

他没把雨衣带来。không mang theo áo mưa.

今天我不把这个问题弄懂就不睡觉。Hôm nay tôi không hiểu vấn đề này, nên không ngủ được.

我昨天把书还给图书馆了。Hôm qua tôi đã trả sách cho thư viện rồi.

f/ Loại câu này được dùng khi động từ có các từ kèm theo là: , , , , , , , .

请你把这个句子翻译成中文。Xin anh dịch câu này sang Trung văn.

我把帽子放在衣架上了。Tôi máng chiếc mũ trên giá áo.

他把这本书送给我。Hắn tặng tôi quyển sách này.

他把这篇小说改成话剧了。Hắn cải biên tiểu thuyết này sang kịch bản.

我们把他送到医院去了。Chúng tôi đưa nó đến bệnh viện.

她天天早上七点钟把孩子送到学校去。Mỗi buổi sáng lúc 7 giờ bà ấy đưa con đến trường.

g/ Loại câu này được dùng khi động từ có hai tân ngữ (nhất là tân ngữ khá dài).

我不愿意把钱借给他。Tôi không muốn cho hắn mượn tiền.

她把刚才听到的好消息告诉了大家。Cô ấy bảo cho mọi người biết tin tốt lành mà cô ấy mới nghe được.

h/ Sau tân ngữ có thể dùng để nhấn mạnh.

他把钱都花完了。Nó xài hết sạch tiền rồi.

他把那些水果全吃了。Nó ăn hết sạch mấy trái cây đó rồi.

i/ Loại câu này không được dùng nếu động từ biểu thị sự phán đoán hay trạng thái (, , , …); biểu thị hoạt động tâm lý hay nhận thức (知道, 同意, 觉得, 希望, 要求, 看见, 听见…); và biểu thị sự chuyển động (, , , , , , , …).

 

CẤU TRÚC 10: 被动句 (câu bị động)

Tổng quát: Có hai loại câu bị động:

1* Loại câu ngụ ý bị động. (Loại câu này trong tiếng Việt cũng có.)

信已经写好了。Thư đã viết xong. (= Thư đã được viết xong.)

杯子打破了。Cái tách [bị đánh] vỡ rồi.

刚买来的东西都放在这儿了。Mấy thứ vừa mua [được] đặt ở chỗ này.

2* Loại câu bị động có các chữ , , . Hình thức chung:

«chủ ngữ + ( / / ) + tác nhân + động từ».

窗子都被风吹开了。Các cửa sổ đều bị gió thổi mở tung ra.

困难一定会被我们克服的。Khó khăn nhất định phải bị chúng ta vượt qua. (= Khó khăn này chúng ta nhất định phải khắc phục.)

我的自行车让(/)人借走了。Xe đạp tôi bị người ta mượn rồi.

* Tác nhân có thể bị lược bỏ:

他被派到河内去工作了。Hắn được phái đến Hà Nội làm việc.

CẤU TRÚC 11: 疑问句 (câu hỏi)

1* Câu hỏi «có/không» (tức là người trả lời sẽ nói: «có/không»): Ta gắn « » hay « » vào cuối câu phát biểu. Thí dụ:

你今年二十五吗?Anh năm nay 25 tuổi à?

你有古代汉语词典吗?Anh có từ điển Hán ngữ cổ đại không?

老师教你汉语吧?Thầy Lý dạy anh Hán ngữ à?

2* Câu hỏi có chữ « »:

你电影票呢?Vé xem phim của anh đâu?

我想去玩, 你呢?Tôi muốn đi chơi, còn anh thì sao?

要是他不同意呢? Nếu ông ta không đồng ý thì sao?

3* Câu hỏi có từ để hỏi: « », « 什么 », « 哪儿 », « 哪里 », « 怎么 », « 怎么样 », « », « 多少 », « 为什么 », v.v…:

a/ Hỏi về người:

谁今天没有来?Hôm nay ai không đến?

他是谁?Hắn là ai vậy?

你是哪国人?Anh là người nước nào?

b/ Hỏi về vật:

这是什么?Đây là cái gì?

c/ Hỏi về sở hữu:

这本书是谁的?Sách này của ai?

d/ Hỏi về nơi chốn:

你去哪儿?Anh đi đâu vậy?

e/ Hỏi về thời gian:

他是什么时候到中国来的?Hắn đến Trung Quốc hồi nào?

现在几点?Bây giờ là mấy giờ?

f/ Hỏi về cách thức:

你们是怎么去上海的?Các anh đi Thượng Hải bằng cách nào?

g/ Hỏi về lý do tại sao:

你昨天为什么没有来?Hôm qua sao anh không đến?

h/ Hỏi về số lượng:

你的班有多少学生?Lớp của bạn có bao nhiêu học sinh?

4* Câu hỏi «chính phản», cũng là để hỏi xem có đúng vậy không:

汉语难不难?Hán ngữ có khó không?

你是不是越南人?Anh có phải là người Việt Nam không?

你有没有«康熙字典»Anh có tự điển Khang Hi không?

5* Câu hỏi «hay/hoặc», hỏi về cái này hay cái khác. Ta dùng « 还是 »:

这是你的词典还是他的词典?Đây là từ điển của anh hay của nó?

(= 这本词典是你的还是他的?)

这个句子对还是不对?Câu này đúng hay không đúng? (đúng hay sai?)

今天九号还是十号?Hôm nay ngày 9 hay 10?

 

CẤU TRÚC 12: 名词性词组 Cụm danh từ

1* Cụm danh từ là «nhóm từ mang tính chất danh từ», là dạng mở rộng của danh từ, được dùng tương đương với danh từ, và có cấu trúc chung: «định ngữ + + trung tâm ngữ». Trong đó «trung tâm ngữ» là thành phần cốt lõi (vốn là danh từ); còn «định ngữ» là thành phần bổ sung /xác định ý nghĩa cho thành phần cốt lõi. Yếu tố «» có khi bị lược bỏ. Thí dụ:

今天的报 tờ báo hôm nay

参观的人 người tham quan

去公园的人 người đi công viên

古老的传说 truyền thuyết lâu đời

幸福 () 生活 cuộc sống hạnh phúc

2* Trung tâm ngữ 中心语 phải là danh từ. Định ngữ 定语 có thể là:

a/ Danh từ: 越南的文化 văn hoá Việt Nam.

b/ Đại từ: 他的努力 cố gắng của .

c/ Chỉ định từ+lượng từ: 这本杂志 tờ tạp chí này

d/ Số từ+lượng từ: 三个人 ba người; 一张世界地图 một tấm bản đồ thế giới.

e/ Hình dung từ: 幸福 () 生活 cuộc sống hạnh phúc; 朋友 bạn tốt.

f/ Động từ: 参观的人 người tham quan.

g/ Động từ+tân ngữ: 骑自行车的人 người đi xe đạp.

h/ Cụm «Chủ–Vị»: 他买的自行车 xe đạp (mà) nó mua.

CẤU TRÚC 13: 比较 (so sánh)

1* Tự so với bản thân: «càng thêm.http://tuantdtcn.multiply.com/ lại càng…». Ta dùng « ».

那种方法更好。Phương pháp đó càng tốt.

他比以前更健康了。Hắn khoẻ mạnh hơn trước.

2* Dùng « » biểu thị sự tuyệt đối: «… nhất».

这些天以来, 今天最冷。Mấy ngày nay, hôm nay là lạnh nhất.

我最喜欢游泳。Tôi thích bơi lội nhất.

3* So sánh giữa hai đối tượng để thấy sự chênh lệch về trình độ, tính chất, v.v… , ta dùng . Cấu trúc là: « A + + B + hình dung từ ». (= A hơn/kém B như thế nào).

我比他大十岁。Tôi lớn hơn nó 10 tuổi.

他今天比昨天来得早。Hôm nay hắn đến sớm hơn hôm qua.

他学习比以前好了。Hắn học tập tốt hơn trước.

这棵树比那棵树高。Cây này cao hơn cây kia.

这棵树比那棵树高得多。Cây này cao hơn cây kia nhiều lắm.

他游泳游得比我好。Nó bơi lội giỏi hơn tôi.

* Dùng « » và « » và để nhấn mạnh:

他比我更大。Tôi đã lớn (tuổi) mà nó còn lớn hơn tôi nữa.

他比我还高。Tôi đã cao mà nó còn cao hơn tôi nữa.

4* Dùng « » để so sánh bằng nhau.

他有我高了。Nó cao bằng tôi.

5* Dùng « 不比 » hoặc « 没有 » để so sánh kém: «không bằng…».

他不比我高。Nó không cao bằng tôi. (= 他没有我高。)

6* Dùng « A B () 一样 + hình dung từ » để nói hai đối tượng A và B khác nhau hay như nhau.

这本书跟那本书一样厚。Sách này dầy như sách kia.

这个句子跟那个句子的意思不一样。Ý câu này khác ý câu kia.

* Có thể đặt trước hay trước 一样 cũng được.

这个句子不跟那个句子的意思一样。Ý câu này khác ý câu kia.

* Dùng « A 不如 B » để nói hai đối tượng A và B không như nhau.

这本书不如那本书。Sách này khác sách kia.

我说中文说得不如他流利。Tôi nói tiếng Trung Quốc không lưu loát như hắn.

* Tự so sánh:

他的身体不如从前了。Sức khoẻ ông ta không được như xưa.

* Dùng « … » để diễn ý «càng… càng…».

脑子越用越灵。Não càng dùng càng minh mẫn.

产品的质量越来越好。Chất lượng sản phẩm càng ngày càng tốt hơn.

 

CẤU TRÚC 14: 复句 (câu phức)

1* Câu phức do hai/nhiều câu đơn (= phân cú 分句) ghép lại:

* Cấu trúc «Chủ ngữ + (động từ1+tân ngữ1) + (động từ2+tân ngữ2) + (động từ3+tân ngữ3) …» diễn tả chuỗi hoạt động.

晚上我复习生词, 写汉字, 做练习。Buổi tối tôi ôn lại từ mới, viết chữ Hán, và làm bài tập.

* Cấu trúc «Chủ ngữ1 + (động từ1+tân ngữ1) + chủ ngữ2 + (động từ2+tân ngữ2) +…»

我学中文, 他学英文。Tôi học Trung văn, nó học Anh văn.

2* Dùng « … » hoặc « … » để diễn ý «vừa… vừa…».

他又会汉语又会英语。Hắn vừa biết tiếng Trung Quốc, vừa biết tiếng Anh.

她又会唱歌又会跳舞。Nàng vừa biết hát, vừa biết khiêu vũ.

他又是我的朋友又是我的老师。Ông ta vừa là bạn tôi, vừa là thầy tôi.

他们边吃饭边看电视。Họ vừa ăn cơm vừa xem TV.

我们边干边学。Chúng tôi vừa làm vừa học.

3* Dùng « 不但而且 … » để diễn ý «không những… mà còn…».

他不但会说汉语而且说得很流利。Hắn không những biết tiếng Trung Quốc mà còn nói được rất lưu loát.

4* Dùng « … » để diễn ý «càng… càng…».

脑子越用越灵。Não càng dùng càng minh mẫn.

产品的质量越来越好。Chất lượng sản phẩm càng ngày càng tốt hơn.

5* Câu phức chính-phụ (thiên-chính phức cú 偏正复句):

Cấu trúc này gồm một ý chính (nằm trong câu chính) và một ý phụ (nằm trong câu phụ) diễn tả: thời gian, nguyên nhân, tương phản, mục đích, điều kiện, v.v…

a/ Thời gian. Ta dùng: «», «», «…时候», «每次…», « …», « 每时…».

她年轻的时候长得很美。Hồi còn trẻ bà ấy rất đẹp.

在我跟你们讲话的时候请安静。Khi tôi đang nói chuyện với các anh, xin các anh im lặng.

他在踢足球的时候受了伤。Nó bị thương khi đang đá banh.

每次见到他我都和他说话。Lần nào gặp hắn tôi cũng nói chuyện với hắn.

我看书时她在唱歌。Khi tôi đang đọc sách, cô ta hát.

当我在学校的时候我遇见了他。Hồi còn đi học, tôi có gặp hắn.

一下课我就找他。Ngay khi tan học, tôi tìm nó.

他一着急就说不出话来。Khi gấp gáp, nó nói không ra lời.

b/ Nguyên nhân. Ta dùng: « 因为… », «因为… , 所以… ».

他因为来晚了, 所以坐在后边。Vì đến trễ, hắn ngồi phía sau.

他天天早上锻炼, 所以身体越来越好。Vì ngày nào cũng rèn luyện thân thể, hắn càng ngày càng khoẻ mạnh ra.

因为下雨, 比赛取消了。Vì trời mưa, trận đấu đã bị hủy bỏ.

c/ Mục đích. Ta dùng: « 为了…».

为了学习汉语我买一本汉语词典。Để học Hán ngữ, tôi mua một quyển từ điển Hán ngữ.

为了成功我们努力学习。Để thành công, chúng tôi gắng sức học tập.

d/ Tương phản. Ta dùng: « 虽然但是…», « …», « 尽管 …».

这个老人虽然年纪很大了但是身体很健康。Ông cụ này tuy rất cao tuổi thế mà rất khoẻ mạnh.

他们虽穷但很快乐。Họ tuy nghèo nhưng rất vui sướng.

尽管我已毕业许多年了但我不会忘记教过我的每一位老师。Cho dù tôi đã tốt nghiệp nhiều năm rồi nhưng tôi không hề quên một giáo viên nào đã dạy tôi.

e/ Điều kiện. Ta dùng: « 要是…», «如果…», «假如…», «只要…».

只要你努力, 你就一定能学好汉语。Chỉ cần anh cố gắng, nhất định anh sẽ học giỏi Hán ngữ.

要是有机会, 我一定到北京去旅行。Nếu có cơ hội, tôi nhất định sẽ đi du lịch Bắc Kinh.

如果有什么事, 就请你打电话给我。Nếu có chuyện gì, xin anh gọi điện cho tôi.

假如你明天有事, 就不要在来了。Nếu ngày mai có việc bận thì anh khỏi trở lại đây nhé.

假如明天不下雨, 我们则去奈山游玩; 下雨则罢。Ngày mai nếu trời không mưa thì chúng ta đi Nại Sơn chơi, còn mưa thì thôi vậy.

Phần Cấu trúc câu còn cấu trúc thứ 3 không có cách nào post được… hận Yahoo khùng ghê… cho nên mọi người load file Word về nha…

LINK FILE WORD – NGỮ PHÁP CƠ BẢN

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

NGỮ PHÁP CƠ BẢN – DANH TỪ & ĐỘNG TỪ & TÍNH TỪ & TRỢ TỪ

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

Bài 1. DANH TỪ 名词 

1. Từ dùng biểu thị người hay sự vật gọi là danh từ. Nói chung ở trước danh từ ta có thể thêm vào số từ hay lượng từ nhưng danh từ không thể nhận phó từ làm bổ nghĩa. Một số ít danh từ đơn âm tiết có thể trùng lặp để diễn tả ý «từng/mỗi». Thí dụ: «人人» (mỗi người=每人), «天天» (mỗi ngày=每天), v.v… Phía sau danh từ chỉ người, ta có thể thêm từ vĩ «» (môn) để biểu thị số nhiều. Thí dụ: 老师们 (các giáo viên). Nhưng nếu trước danh từ có số từ hoặc lượng từ hoặc từ khác vốn biểu thị số nhiều thì ta không thể thêm từ vĩ «» vào phía sau danh từ. Ta không thể nói «五个老师们» mà phải nói «五个老师» (5 giáo viên).

2. Nói chung, danh từ đều có thể làm chủ ngữ, tân ngữ, định ngữ trong một câu.

a/. Làm chủ ngữ 主语.

北京是中国的首都。= Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc.

夏天热。= Mùa hè nóng.

西边是操场。= Phía tây là sân chơi.

老师给我们上课。= Giáo viên dạy chúng tôi.

b/. Làm tân ngữ 宾语.

小云看书。= Tiểu Vân đọc sách.

现在是五点。= Bây giờ là 5 giờ.

我们家在东边。= Nhà chúng tôi ở phía đông.

我写作业。= Tôi làm bài tập.

c/. Làm định ngữ 定语.

这是中国瓷器。= Đây là đồ sứ Trung Quốc.

我喜欢夏天的夜晚。= Tôi thích đêm mùa hè.

英语语法比较简单。= Ngữ pháp tiếng Anh khá đơn giản.

妈妈的衣服在那儿。= Y phục của ở đàng kia.

3. Từ chỉ thời gian (danh từ biểu thị ngày tháng năm, giờ giấc, mùa, v.v…) và từ chỉ nơi chốn (danh từ chỉ phương hướng hoặc vị trí) cũng có thể làm trạng ngữ, nhưng nói chung các danh từ khác thì không có chức năng làm trạng ngữ. Thí dụ:

他后天来。= Ngày mốt hắn sẽ đến.

我们晚上上课。= Buổi tối chúng tôi đi học.

您里边请。= Xin mời vào trong này.

我们外边谈。= Chúng ta hãy nói chuyện ở bên ngoài.

 

Bài 2. HÌNH DUNG TỪ 形容词

Hình dung từ là từ mô tả hình trạng và tính chất của sự vật hay người, hoặc mô tả trạng thái của hành vi hay động tác. Phó từ « » đặt trước hình dung từ để tạo dạng thức phủ định.

* Các loại hình dung từ:

1. Hình dung từ mô tả hình trạng của người hay sự vật: , , , , , 绿 , , 美丽.

2. Hình dung từ mô tả tính chất của người hay sự vật: , , , , , , 正确 , 伟大 , 优秀 , 严重.

3. Hình dung từ mô tả trạng thái của một động tác/hành vi: , , 紧张 , 流利 , 认真 , 熟练 , 残酷.

* Cách dùng:

1. Làm định ngữ 定语: Hình dung từ chủ yếu là bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm của một ngữ danh từ. Thí dụ:

红裙子 = váy đỏ.

绿帽子 = nón xanh.

宽广的原野 = vùng quê rộng lớn.

明媚的阳光= nắng sáng rỡ.

2. Làm vị ngữ 谓语: Thí dụ:

时间紧迫。 = Thời gian gấp gáp.

她很漂亮。 = Cô ta rất đẹp.

茉莉花很香。= Hoa lài rất thơm.

他很高。= Hắn rất cao.

3. Làm trạng ngữ 状语: Một cách dùng chủ yếu của hình dung từ là đứng trước động từ để làm trạng ngữ cho động từ. Thí dụ:

快走。= Đi nhanh lên nào.

你应该正确地对待批评。= Anh phải đúng đắn đối với phê bình.

同学们认真地听讲。= Các bạn học sinh chăm chú nghe giảng bài.

4. Làm bổ ngữ 补语: Hình dung từ làm bổ ngữ cho vị ngữ động từ. Thí dụ:

把你自己的衣服洗干净。= Anh hãy giặt sạch quần áo của anh đi.

雨水打湿了她的头发。= Mưa làm ướt tóc nàng.

风吹干了衣服。= Gió làm khô quần áo.

5. Làm chủ ngữ 主语:

谦虚是中国传统的美德。= Khiêm tốn là nết đẹp cổ truyền của Trung Quốc.

骄傲使人落后。= Kiêu ngạo khiến người ta lạc hậu.

6. Làm tân ngữ 宾语:

女孩子爱漂亮。 = Con gái thích đẹp.

他喜欢安静。= Hắn thích yên tĩnh.

Bài 3. ĐỘNG TỪ 动词

Động từ là từ biểu thị động tác, hành vi, hoạt động tâm lý, sự phát triển biến hoá, v.v… Động từ có thể phân thành «cập vật động từ» 及物动词 (transitive verbs= động từ có kèm tân ngữ) và «bất cập vật động từ» 不及物动词(intransitive verbs= động từ không kèm tân ngữ). Dạng phủ định của động từ có chữ «» hay «» hay «没有».

*Cách dùng:

1. Động từ làm vị ngữ 谓语.

我喜欢北京。= Tôi thích Bắc Kinh.

我站在长城上。= Tôi đang đứng trên Trường Thành.

2. Động từ làm chủ ngữ 主语.
Động từ có thể làm chủ ngữ với điều kiện vị ngữ là hình dung từ hoặc là động từ biểu thị ý «đình chỉ, bắt đầu, phán đoán». Thí dụ:

浪费可耻。= Lãng phí thì đáng xấu hổ.

比赛结束了。= Trận đấu đã xong.

3. Động từ làm định ngữ 定语.
Khi động từ làm định ngữ, phía sau nó có trợ từ «
». Thí dụ:

你有吃的东西吗? = Anh có gì ăn không?

他说的话很正确。= Điều nó nói rất đúng.

4. Động từ làm tân ngữ 宾语.

我喜欢学习。= Tôi thích học.

我们十点结束了讨论。= Chúng tôi đã chấm dứt thảo luận lúc 10 giờ.

5. Động từ làm bổ ngữ 补语.

我听得懂。= Tôi nghe không hiểu.

他看不见。= Nó nhìn không thấy.

6. Động từ làm trạng ngữ 状语.
Khi động từ làm trạng ngữ, phía sau nó có trợ từ «
». Thí dụ:

他父母热情地接待了我。= Bố mẹ anh ấy đã tiếp đãi tôi nhiệt tình.

学生们认真地听老师讲课。= Các học sinh chăm chú nghe thầy giảng bài.

*Vài vấn đề cần chú ý khi dùng động từ:

1. Động từ Hán ngữ không biến đổi như động từ tiếng Pháp, Đức, Anh… tức là không có sự hoà hợp giữa chủ ngữ và động từ (Subject-verb agreement), không có biến đổi theo ngôi (số ít/số nhiều) và theo thì (tense).

我是学生。= Tôi học sinh.

她是老师。= Bà ấy giáo viên.

他们是工人。= Họ công nhân.

我正在写作业。= Tôi đang làm bài tập.

我每天下午写作业。= Chiều nào tôi cũng làm bài tập.

我写了作业。= Tôi đã làm bài tập.

2. Trợ từ «» gắn sau động từ để diễn tả một động tác hay hành vi đã hoàn thành. Thí dụ:

我读了一本书。= Tôi đã đọc xong một quyển sách.

他走了。 = Nó đi rồi.

3. Trợ từ « » gắn sau động từ để diễn tả một động tác đang tiến hành hoặc một trạng thái đang kéo dài. Thí dụ:

我们正上着课。 = Chúng tôi đang học.

门开着呢。 = Cửa đang mở.

4. Trợ từ « » gắn sau một động từ để nhấn mạnh một kinh nghiệm đã qua. Thí dụ:

我去过北京。 = Tôi từng đi Bắc Kinh.

我曾经看过这本书。 = Tôi đã từng đọc quyển sách này.

Bài 4. TRỢ ĐỘNG TỪ 助动词

Trợ động từ là từ giúp động từ để diễn tả «nhu cầu, khả năng, nguyện vọng». Trợ động từ cũng có thể bổ sung cho hình dung từ. Danh từ không được gắn vào phía sau trợ động từ. Dạng phủ định của trợ động từ có phó từ phủ định « ».

Trợ động từ có mấy loại như sau:

1. Trợ động từ diễn tả kỹ năng/năng lực: , 能够 , .

2. Trợ động từ diễn tả khả năng: , 能够 , , 可以 ,可能 .

3. Trợ động từ diễn tả sự cần thiết về mặt tình/lý: 应该 , 应当 , , .

4. Trợ động từ diễn tả sự bắt buộc (tất yếu): 必须 , /děi/.

5. Trợ động từ diễn tả nguyện vọng chủ quan: , , 愿意 , , .

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

214 BỘ THỦ TIẾNG HOA

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

Bộ thủ là một yếu tố quan trọng của Hán tự, giúp việc tra cứu Hán tự tương đối dễ dàng vì nhiều chữ được gom thành nhóm có chung một bộ thủ. Từ đời Hán, Hứa Thận 許慎 phân loại chữ Hán thành 540 nhóm hay còn gọi là 540 bộ. Thí dụ, những chữ , , đều liên quan tới ngôn ngữ, lời nói, đàm luận v.v… nên được xếp chung vào một bộ, lấy bộ phận (ngôn) làm bộ thủ (cũng gọi là «thiên bàng» 偏旁). Đến đời Minh, Mai Ưng T 梅膺祚 xếp gọn lại còn 214 bộ thủ và được dùng làm tiêu chuẩn cho đến nay. Phần lớn các bộ thủ của 214 bộ đều là chữ tượng hình và hầu như dùng làm bộ phận chỉ ý nghĩa trong các chữ theo cấu tạo hình thanh (hay hài thanh). Mỗi chữ hình thanh gồm bộ phận chỉ ý nghĩa (hay nghĩa phù 義符 ) và bộ phận chỉ âm (hay âm phù 音符 ). Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ thủ là một điều kiện thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự. Phần sau đây giải thích ý nghĩa 214 bộ, trình bày như sau:  

 

Số thứ tự – tự dạng & biến thể – âm Hán Việt – âm Bắc Kinh – mã Unicode – ý nghĩa.

 

1. nhất (yi) 4E00= số một

2. cổn (kǔn) 4E28= nét sổ

3. chủ (zhǔ) 4E36= điểm, chấm

4. 丿 phiệt (piě) 4E3F= nét sổ xiên qua trái

5. ất (yī) 4E59= vị trí thứ 2 trong thiên can

6. quyết (jué) 4E85= nét sổ có móc

7. nhị (ér) 4E8C= số hai

8. đầu (tóu) 4EA0= (không có nghĩa)

9. nhân (rén) 4EBA (4EBB)= người

10. nhân (rén) 513F= người

11. nhập (rù) 5165= vào

12. bát (bā) 516B= số tám

13. quynh (jiǒng) 5182= vùng biên giới xa; hoang địa

14. mịch (mì) 5196= trùm khăn lên

15. băng (bīng) 51AB= nước đá

16. kỷ (jī) 51E0= ghế dựa

17. khảm (kǎn) 51F5= há miệng

18. đao (dāo) 5200 (5202)= con dao, cây đao (vũ khí)

19. lực (lì) 529B, F98A= sức mạnh

20. bao (bā) 52F9= bao bọc

21. chuỷ (bǐ) 5315= cái thìa (cái muỗng)

22. phương (fāng) 531A= tủ đựng

23. hệ (xǐ) 5338= che đậy, giấu giếm

24. thập (shí) 5341= số mười

25. bốc (bǔ) 535C= xem bói

26. tiết (jié) 5369= đốt tre

27. hán (hàn) 5382= sườn núi, vách đá

28. khư, tư (sī) 53B6= riêng tư

29. hựu (yòu) 53C8= lại nữa, một lần nữa

30. khẩu (kǒu) 53E3= cái miệng

31. vi (wéi) 56D7= vây quanh

32. thổ (tǔ) 571F= đất

33. sĩ (shì) 58EB= kẻ sĩ

34. trĩ (zhǐ) 5902= đến ở phía sau

35. tuy (sūi) 590A= đi chậm

36. tịch (xì) 5915= đêm tối

37. đại (dà) 5927= to lớn

38. nữ (nǚ) 5973= nữ giới, con gái, đàn bà

39. tử (zǐ) 5B50= con; tiếng tôn xưng: «Thầy», «Ngài»

40. miên (mián) 5B80= mái nhà mái che

41. thốn (cùn) 5BF8= đơn vị «tấc» (đo chiều dài)

42. tiểu (xiǎo) 5C0F= nhỏ bé

43. uông (wāng) 5C22= yếu đuối

44. thi (shī) 5C38= xác chết, thây ma

45. triệt (chè) 5C6E= mầm non, cỏ non mới mọc

46. sơn (shān) 5C71= núi non

47. xuyên (chuān) 5DDB= sông ngòi

48. công (gōng) 5DE5= người thợ, công việc

49. kỷ (jǐ) 5DF1= bản thân mình

50. cân (jīn) 5DFE= cái khăn

51. can (gān) 5E72= thiên can, can dự

52. yêu (yāo) 4E61, 5E7A= nhỏ nhắn

53. 广 nghiễm (ān) 5E7F= mái nhà

54. dẫn (yǐn) 5EF4= bước dài

55. củng (gǒng) 5EFE= chắp tay

56. dặc (yì) 5F0B= bắn, chiếm lấy

57. cung (gōng) 5F13= cái cung (để bắn tên)

58. kệ (jì) 5F50= đầu con nhím

59 sam (shān) 5F61= lông tóc dài

60. xích (chì) 5F73= bước chân trái

61. tâm (xīn) 5FC3 ( 5FC4)= quả tim, tâm trí, tấm lòng

62. qua (gē) 6208= cây qua (một thứ binh khí dài)

63. hộ (hù) 6236= cửa một cánh

64. thủ (shǒu) 624B (624C)= tay

65. chi (zhī) 652F= cành nhánh

66. phộc (pù) 6534 (6535)= đánh khẽ

67. văn (wén) 6587= văn vẻ, văn chương, vẻ sáng

68. đẩu (dōu) 6597= cái đấu để đong

69. cân (jīn) 65A4= cái búa, rìu

70. phương (fāng) 65B9= vuông

71. vô (wú) 65E0= không

72. nhật (rì) 65E5= ngày, mặt trời

73. viết (yuē) 66F0= nói rằng

74. nguyệt (yuè) 6708= tháng, mặt trăng

75. mộc (mù) 6728= gỗ, cây cối

76. khiếm (qiàn) 6B20= khiếm khuyết, thiếu vắng

77. chỉ (zhǐ) 6B62= dừng lại

78. đãi (dǎi) 6B79= xấu xa, tệ hại

79. thù (shū) 6BB3= binh khí dài

80. vô (wú) 6BCB= chớ, đừng

81. tỷ (bǐ) 6BD4= so sánh

82. mao (máo) 6BDB= lông

83. thị (shì) 6C0F= họ

84. khí (qì) 6C14= hơi nước

85. thuỷ (shǔi) 6C34 (6C35)= nước

86. hỏa (huǒ) 706B (706C)= lửa

87. trảo (zhǎo) 722A= móng vuốt cầm thú

88. phụ (fù) 7236= cha

89. hào (yáo) 723B= hào âm, hào dương (Kinh Dịch)

90. tường (qiáng) 723F (4E2C)= mảnh gỗ, cái giường

91. phiến (piàn) 7247= mảnh, tấm, miếng

92. nha (yá) 7259= răng

93. ngưu (níu) 725B, 725C= trâu

94. khuyển (quản) 72AC (72AD)= con chó

95. huyền (xuán) 7384= màu đen huyền, huyền bí

96. ngọc (yù) 7389= đá quý, ngọc

97. qua (guā) 74DC= quả dưa

98. ngõa (wǎ) 74E6= ngói

99. cam (gān) 7518= ngọt

100. sinh (shēng) 751F= sinh đẻ, sinh sống

101. dụng (yòng) 7528= dùng

102. điền (tián) 7530= ruộng

103. thất (pǐ) 758B ( 5339)=đơn vị đo chiều dài, tấm (vải)

104. nạch (nǐ) 7592= bệnh tật

105. bát (bǒ) 7676= gạt ngược lại, trở lại

106. bạch (bái) 767D= màu trắng

107. bì (pí) 76AE= da

 

108. mãnh (mǐn) 76BF= bát dĩa

109. mục (mù) 76EE= mắt

110. mâu (máo) 77DB= cây giáo để đâm

111. thỉ (shǐ) 77E2= cây tên, mũi tên

112. thạch (shí) 77F3= đá

113. thị; kỳ (shì) 793A (793B)= chỉ thị; thần đất

114. nhựu (róu) 79B8= vết chân, lốt chân

115. hòa (hé) 79BE= lúa

116. huyệt (xué) 7A74= hang lỗ

117. lập (lì) 7ACB= đứng, thành lập

118. trúc (zhú) 7AF9= tre trúc

119. mễ (mǐ) 7C73= gạo

120. mịch (mì) 7CF8 (7CF9, 7E9F)= sợi tơ nhỏ

121. phẫu (fǒu) 7F36= đồ sành

122. võng (wǎng) 7F51 (7F52, 7F53)= cái lưới

123. dương (yáng) 7F8A= con dê

124. vũ (yǚ) FA1E (7FBD)= lông vũ

125. lão (lǎo) 8001= già

126. nhi (ér) 800C= mà, và

127. lỗi (lěi) 8012= cái cày

128. nhĩ (ěr) 8033= tai (lỗ tai)

129. duật (yù) 807F= cây bút

130. nhục (ròu) 8089= thịt

131. thần (chén) 81E3= bầy tôi

132. tự (zì) 81EA= tự bản thân, kể từ

133. chí (zhì) 81F3= đến

134. cữu (jiù) 81FC= cái cối giã gạo

135. thiệt (shé) 820C= cái lưỡi

136. suyễn (chuǎn) 821B= sai suyễn, sai lầm

137. chu (zhōu) 821F= cái thuyền

138. cấn (gèn) 826E= quẻ Cấn (Kinh Dịch); dừng, bền cứng

139. sắc (sè) 8272= màu, dáng vẻ, nữ sắc

140. thảo (cǎo) 8278 (8279)= cỏ

141. hô (hū) 864D= vằn vện của con hổ

142. trùng (chóng) 866B= sâu bọ

143. huyết (xuè) 8840= máu

144. hành (xíng) 884C, FA08= đi, thi hành, làm được

145. y (yī) 8863 (8864)= áo

146. á (yà) 897E, 8980= che đậy, úp lên

147. kiến (jiàn) 898B, FA0A (89C1)= trông thấy

148. giác (jué) 89D2= góc, sừng thú

149. ngôn (yán) 8A00, 8A01, 8BA0= nói

150. cốc (gǔ) 8C37= khe nước chảy giữa hai núi, thung lũng

151. đậu (dòu) 8C46= hạt đậu, cây đậu

152. thỉ (shǐ) 8C55= con heo, con lợn

153. trãi (zhì) 8C78= loài sâu không chân

154. bối (bèi) 8C9D (8D1D)=vật báu

155. xích (chì) 8D64= màu đỏ

156. tẩu (zǒu) 8D70, 8D71= đi, chạy

157. túc (zú) 8DB3= chân, đầy đủ

158. thân (shēn) 8EAB= thân thể, thân mình

159. xa (chē) 8ECA, F902 (8F66)= chiếc xe

160. tân (xīn) 8F9B= cay

161. thần (chén) 8FB0, F971=nhật, nguyệt, tinh; thìn (12 chi)

162. sước (chuò) 8FB5 ( 8FB6)=chợt bước đi chợt dừng lại

163. ấp (yì) 9091(+ 961D)= vùng đất, đất phong cho quan

164. dậu (yǒu) 9149= một trong 12 địa chi

165. biện (biàn) 91C6= phân biệt

166. lý (lǐ) 91CC, F9E9= dặm; làng xóm

167. kim (jīn) 91D1, 91D2, 9485, F90A= kim loại; vàng

168. trường (cháng) 9577 ( 9578, 957F)= dài; lớn (trưởng)

169. môn (mén) 9580 (95E8)= cửa hai cánh

170. phụ (fù) 961C (- 961D)=đống đất, gò đất

171. đãi (dài) 96B6= kịp, kịp đến

172. truy, chuy (zhuī) 96B9= chim đuôi ngắn

173. vũ (yǚ) 96E8= mưa

174. thanh (qīng) 9752 (9751)= màu xanh

175. phi (fēi) 975E= không

176. diện (miàn) 9762 (9763)= mặt, bề mặt

177. cách (gé) 9769= da thú; thay đổi, cải cách

178. vi (wéi) 97CB (97E6)= da đã thuộc rồi

179. phỉ, cửu (jiǔ) 97ED= rau phỉ (hẹ)

180. âm (yīn) 97F3= âm thanh, tiếng

181. hiệt (yè) 9801 (9875)= đầu; trang giấy

182. phong (fēng) 98A8 (51EC, 98CE)= gió

183. phi (fēi) 98DB ( 98DE)= bay

184. thực (shí) 98DF (98E0, 9963)= ăn

185. thủ (shǒu) 9996= đầu

186. hương (xiāng) 9999= mùi hương, hương thơm

187. mã (mǎ) 99AC (9A6C)= con ngựa

188. cốt (gǔ) 9AAB= xương

189. cao (gāo) 9AD8, 9AD9= cao

190. bưu, tiêu (biāo) 9ADF= tóc dài; sam (shān)=cỏ phủ mái nhà

191. đấu (dòu) 9B25= chống nhau, chiến đấu

192. sưởng (chàng) 9B2F= rượu nếp; bao đựng cây cung

193. cách (gé) 9B32=tên một con sông xưa; (lì)= cái đỉnh

194. quỷ (gǔi) 9B3C=con quỷ

195. ngư (yú) 9B5A (9C7C)= con cá

196. điểu (niǎo) 9CE5 (9E1F)= con chim

197. lỗ (lǔ) 9E75= đất mặn

198. 鹿 lộc (lù) 9E7F, F940= con hươu

199. mạch (mò) 9EA5 (9EA6)= lúa mạch

200. ma (má) 9EBB= cây gai

201. hoàng (huáng) 9EC3, 9EC4= màu vàng

202. thử (shǔ) 9ECD= lúa nếp

203. hắc (hēi) 9ED1, 9ED2= màu đen

204. chỉ (zhǐ) 9EF9= may áo, khâu vá

205. mãnh (mǐn) 9EFD, 9EFE= con ếch; cố gắng (mãnh miễn)

206. đỉnh (dǐng) 9F0E= cái đỉnh

207. cổ (gǔ) 9F13, 9F14= cái trống

208. thử (shǔ) 9F20= con chuột

209. tỵ (bí) 9F3B= cái mũi

210. tề (qí) 9F4A ( 6589, 9F50)= ngang bằng, cùng nhau

211. xỉ (chǐ) 9F52 (齿9F7F, 6B6F)= răng

212. long (lóng) 9F8D, F9C4 ( 9F99)= con rồng

213. quy (guī) F907, F908, 9F9C (4E80, 9F9F)=con rùa

214. dược (yuè) 9FA0= sáo 3 lỗ

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

VĂN PHÒNG TỨ BẢO 文房四寶

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

VĂN PHÒNG TỨ BẢO 文房四寶

Hiện nay computer quả thực là bửu bối vô song, là một công cụ đắc lực của ta trong việc học tập Hán ngữ lẫn thư pháp, nhưng theo truyền thống thì chỉ có bốn bửu bối trong văn phòng (văn phòng tứ bảo):

* Giấy (chỉ ) * Mực (mặc ) * Nghiên (nghiễn ) * Bút (bút )

Giấy cho dân nhà nghề là giấy Tuyên , thường gọi là «xuyến chỉ» (đọc trại của Tuyên chỉ 宣紙), mỏng như giấy quyến vấn thuốc hút, dùng cho cả thư pháp lẫn hội họa, nhưng đắt tiền. Giấy Tuyên có hai loại: sinh chỉ 生紙 (giấy sống, chưa dúng phèn, dùng cho thư pháp) và thục chỉ 熟紙 (giấy chín, đã dúng phèn, dùng cho hội họa). Việc luyện tập tốn rất nhiều giấy, ta nên dùng giấy thường miễn hút mực (như giấy báo) là được.

Mực có hai loại: mực thỏi và mực nước (mặc trấp 墨汁). Mực thỏi có chất keo, loại tốt thường có mùi xạ hương. Mực tốt thì sau khi viết xong, ta bồi tranh chữ không bị nhoè mực. Mực nước (mặc trấp) tiện dụng nhưng không đủ độ sánh, ta cần mài thêm mực thỏi để tăng độ sánh đặc. Cách dùng mực rất quan trọng, tạo ra các hiệu quả khác nhau trên từng chất liệu hay các loại giấy. Trong nghề gọi là mặc pháp 墨法 (phép dùng mực). Mài mực cũng là cách tập cổ tay trước khi cầm bút viết chữ. Nói chung viết chữ trên giấy không hút nước thì mực phải đặc, trên giấy hút nước như giấy tuyên thì mực hơi sánh. Đừng pha mực quá loãng.

Nghiên mực có các kiểu dáng khác nhau, nhưng nguyên tắc là có một độ nghiêng nhỏ để cho mực đọng về một phía. Khi mài mực thì nhỏ một vài giọt mặc trấp vào cho hơi ướt đáy nghiên. Rồi mài thỏi mực theo chiều kim đồng hồ, thỉnh thoảng nhỏ thêm vài giọt mặc trấp. Pha chế vừa đủ cho một lần sử dụng, không nên đổ quá nhiều mặc trấp vào nghiên. Mực dùng không hết sẽ đọng thành vẩy và cặn cáu trên nghiên.

* Nghiên mực đời Khang Hi * 3 mặt của một thỏi mực

 

Bút có nhiều loại: tiểu, trung, đại. Lông bút có loại cứng (như lông sói) có loại mềm (như lông thỏ) và có loại pha trộn các loại lông theo một tỉ lệ để thích hợp cho cả vẽ tranh lẫn viết chữ. Khác với cây bút của phương Tây là chủ yếu để viết chữ, mao bút của Trung Quốc có thể vừa viết chữ vừa vẽ tranh. Nói chung viết chữ nên dùng bút lông sói, còn vẽ tranh thì tùy theo trường hợp và tùy theo hiệu quả mong muốn mà ta sử dụng các loại bút khác nhau. Khi luyện thư pháp nên dùng bút cỡ trung để viết chữ Hán trong các ô vuông mỗi cạnh lớn chừng 5 hay 6 cm. Khi bắt đầu luyện tập thì phải đi từ chữ Khải. Không nên bắt đầu tập bằng tiểu khải (chữ Khải nhỏ chừng một phân vuông). Chỉ khi viết chữ to ta mới nghiên cứu được bút pháp và các bút thế. Khi thuần thục thì chữ viết phóng to thu nhỏ đều dễ dàng.

 

* Bồn rửa bút bằng ngọc

Các bộ phận của bút lông:

* Đào tuyến 陶線: sợi dây nhỏ ở một đầu quản bút, dùng treo bút lên giá bút sau khi sử dụng.

* Bút quản 筆管 (bút can 筆杆): quản bút, bằng trúc.

* Bút hào 筆毫: búp lông, giống búp sen chưa nở.

* Bút căn 筆根: phần búp lông dính với quản bút.

* Bút đỗ 筆肚: bụng búp lông.

* Bút phong 筆鋒 (bút tiêm 筆尖): ngọn bút.

* Bút mạo 筆帽: nắp bút (bằng trúc hoặc nhựa).

Viết xong, ta rửa sạch bút, móc đào tuyến vào một cái giá để ngọn bút quay xuống đất. Không nên dùng bút mạo vì nó dễ làm hư lông bút.

(Copy từ Internet)

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

TỔNG QUAN VỀ CHỮ HÁN

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Hán ngữ là một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Hán-Tạng (Sino-Tibetan). Ngữ tộc này còn bao gồm hai nhánh lớn: Tạng-Miến (Tibeto-Burman) và Hán. Ngữ tộc Hán Tạng còn bao gồm các ngôn ngữ Thái và Nê-pal (Nepalese). Còn có một thuyết khác: Hán ngữ là ngôn ngữ độc lập trong đại ngữ tộc Indo-Sinitic. Ngữ tộc này còn bao gồm các ngôn ngữ: Thái, Tây Tạng, Miến Điện (Burmese), Mèo (Miao), Lolo, và các ngôn ngữ nhóm Mon-Khmer.

Tuy Hán ngữ nổi tiếng là một trong các ngôn ngữ cao niên nhất, nhưng chưa ai trả lời được Hán ngữ được bao nhiêu tuổi, vì câu hỏi lớn hơn về nguồn gốc của dân tộc này vẫn chưa giải đáp nổi.

Cứ theo truyền thuyết thì Phục Hi 伏 羲 (một ông vua truyền thuyết) khoảng 3000 năm trước Công Nguyên (= tcn) vì chứng kiến những ký hiệu huyền bí trên lưng con long mã xuất hiện nơi sông Hoàng Hà nên đã truyền một vị đại quan tên là Thương Hiệt 倉頡 tạo ra chữ viết. Cũng theo truyền thuyết, Phục Hi vẽ ra bát quái, coi như tiền thân của chữ viết. Còn Thương Hiệt là hữu sử quan của Hoàng Đế (cũng là ông vua truyền thuyết) chứ không phải của Phục Hi. Lại có một thuyết khác, gọi là «Thương Hiệt tác thư» 倉 頡 作 書 (Thương Hiệt sáng tác chữ viết): Thương Hiệt đã quan sát các hiện tượng thiên nhiên và bắt chước các dấu vết của động vật, cây cỏ, chim chóc, tinh tú mà tạo ra chữ Hán. Thông thường người ta chỉ nhắc đến Thương Hiệt mà bỏ sót Trở Tụng, tả sử quan của Hoàng Đế. Từ điển Từ Hải giảng nơi mục từ Trở Tụng rằng: «Thời của Hoàng Đế, Trở Tụng là quan tả sử, Thương Hiệt là quan hữu sử, cùng tạo ra văn tự; nhưng đời nay nhiều người biết có Thương Hiệt mà ít người biết có Trở Tụng.» (Hoàng Đế thời Trở Tụng vi tả sử, Thương Hiệt vi hữu sử, đồng tác văn tự; đãn kim thế đa tri hữu Thương Hiệt, tiển tri hữu Trở Tụng 黃 帝 時 沮 誦 為 左 史 , 倉 頡 為 右 史 , 同 作 文 字 ; 但 今 世 多 知 有 倉 頡 , 鮮 知 有 沮 誦 ). Từ điển Từ Hải còn trích dẫn Tứ Thể Thư Thế của Vệ Hằng 衛 恆 rằng: «Trở Tụng là sử quan của Hoàng Đế, là người đầu tiên tạo ra thư khế, quản lý vạn sự.» (Trở Tụng, Hoàng Đế sử, thuỷ tác thư khế, kỷ cương vạn sự 沮 誦 , 黃 帝 史 , 始 作 書 契 , 紀 綱 萬 事 ).

Văn tự Trung Quốc là một thành tựu văn hoá quan trọng đến nỗi tương truyền rằng khi hệ văn tự này hoàn thành thì ban đêm thần sầu quỉ khốc, sấm chớp nổi dậy, và ngũ cốc trên trời đổ xuống như mưa. Tất nhiên ngày nay rất hiếm người tin vào điều đó, nhưng sự thần bí hoá thành tựu này chẳng qua là đề cao tính chất quan trọng của nó. Văn tự là thành tựu quan trọng, bởi vì chữ viết và các dụng cụ ghi chép – dao khắc, bút, sơn, mực, lụa, thẻ tre (trúc giản), thẻ gỗ (mộc giản), giấy – đã giúp con người ghi nhớ sự việc trong lao động và sinh hoạt, nhưng quan trọng hơn cả là họ có thể ghi chép được quá khứ của mình cũng như lưu giữ các kiến thức và kinh nghiệm để truyền lại cho hậu nhân. Nhờ đó mà con người có lịch sử thành văn. Những bài học lịch sử và kiến thức cũng như sự minh triết của cổ nhân bao ngàn năm qua đã cải thiện con người hoang dã của hôm qua để thành người văn minh của hôm nay. Giả sử không có văn tự con người hẳn không biết quá khứ dằng dặc bao ngàn năm của mình. Một khi sau lưng chỉ là bóng tối, thì trước mặt hẳn không có triển vọng gì.

Các nhà ngữ học Trung Quốc hiện nay đã bác bỏ thuyết «Thương Hiệt tác thư» 倉 頡 作 書 ấy. Họ cho rằng Thương Hiệt chẳng qua chỉ là hệ thống lại các chữ Hán có sẵn mà thôi. Những khai quật khảo cổ cho thấy chữ Hán cổ xưa nhất là Giáp Cốt Văn 甲骨文 được khắc trên mai rùa và xương thú (giáp = quy giáp 龜 甲 : mai rùa; cốt = thú cốt 獸 骨 : xương thú), xuất hiện từ đời Thương 商 (1766-1122 tcn). Đời Chu 周 (1122-221 tcn) sử dụng chữ Đại Triện 大 篆 . Đời Tần 秦 (221-206 tcn), Tần Thủy Hoàng Đế 秦始皇帝 thống nhất sáu nước, thừa tướng Lý Tư 李 斯 thống nhất văn tự, chữ Tiểu Triện 小 篆 và chữ Lệ 隸 được sử dụng. Các chữ Khải 楷, Hành 行, Thảo 草 được phát triển từ đời Hán 漢 (206 tcn-221 cn) đến đời Tấn 晉 (265-420). Năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Quốc cầm quyền, chủ trương giản hóa văn tự và chữ giản thể được phổ biến cho đến nay tại Hoa Lục.

LƯỢC SỬ HỆ PHIÊN ÂM PINYIN

Việc phiên âm Hán tự đã có tự bao giờ? Trước hết phải kể từ các thừa sai dòng Tên (Jesuit missionaries) xuất hiện ở Trung Quốc cuối thế kỷ XVI. Họ học thông thạo Hán ngữ tại khu vực hải cảng của Macao với lối phiên âm Latin do chính họ sáng chế. Họ rất được trọng vọng ở triều đình Bắc Kinh. Người Trung Quốc dẫu có đánh giá cao cách phiên âm Latin ấy nhưng cũng khó vận dụng được vì thật sự cách phiên âm này chỉ thích hợp cho người Tây phương học Hán ngữ. Sau đó, các mục sư Tin Lành có nhiều cải tiến hơn trong việc dạy dân chúng vùng duyên hải học Hán ngữ bằng cách phiên âm Latin. Nhưng bản thân người Trung Quốc vẫn chưa nỗ lực cải cách các phương thức phiên âm ấy để biến đổi cái văn tự biểu ý (ideographic characters) truyền thống của họ thành một văn tự biểu âm (phonetic script).

Hai thế kỷ sau đó, cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Tây phương đã buộc người Trung Quốc nghĩ đến việc hiện đại hóa, một việc mà Nhật Bản đã tự nguyện tiến hành và đã thành công. Cải cách văn tự càng trở nên bức thiết trước những tiện ích như điện tín, máy đánh chữ, máy in hiện đại, cũng như trước nhu cầu giảng dạy khoa học tự nhiên cho học sinh. Trong khi người Trung Quốc lúng túng với văn tự biểu ý của mình thì người Nhật từ lâu đã nghĩ ra cách dùng hệ thống ký âm gọi là Kana (Giả danh 假名: gồm Phiến giả danh [katakana] 片假名 và Bình giả danh [Hiragana] 平假名song hành với Kanji 漢字 (tức là những Hán tự vay mượn của Trung Quốc đọc theo âm Nhật).

Từ năm 1912 đến 1949 người Trung Quốc đã cố gắng hướng về một quốc ngữ với giản hóa tự. Đáng tiếc những nỗ lực ấy đã bị chựng lại vì những người bảo thủ không muốn văn tự tổ tiên truyền lại bị xuyên tạc cải biên cũng như không muốn tiếng Quan Thoại 官話 (Mandarin) trở thành Quốc Ngữ 國語. Trong thời kỳ này, hệ thống Chú Âm Phù Hiệu 注音符號 ra đời, gồm khoảng 40 ký hiệu chế biến từ một số nét Hán tự, nhưng vẫn chỉ là một cách phiên âm bên cạnh Hán tự truyền thống (tức là chữ phồn thể) chứ không thể đứng độc lập được. Phong trào giáo dục đại chúng những năm 1920 đã đề ra 1000 Hán tự cơ bản để dạy người mù chữ. Đó có phải là khởi điểm cho những người mù chữ để họ phát triển thành 5000 Hán tự sau này, hay đó có phải là một thứ Hán ngữ cơ bản bao quát mọi tình huống viết lách thông thường?

Những nghi tình này dẫn đến phương án Latin hóa Hán tự. Năm 1926 Quốc Ngữ La Mã Tự được khởi thảo và được Bộ Giáo Dục công bố năm 1928. Đặc điểm của Quốc Ngữ La Mã Tự là không dùng những ký hiệu bên ngoài chữ để biểu thị bốn thanh điệu, mà dùng một vài mẫu tự Latin nằm ngay trong chữ. Đây là một hệ thống phiên âm chính xác nhưng khó học khó nhớ vì thế nó cũng dừng lại ở chức năng phiên âm mà thôi chứ không thể tiến xa hơn như là một văn tự riêng biệt.

Khoảng năm 1930, tại Liên Xô một thứ Hán ngữ Latin hóa được chế tác cho người Trung Quốc sống ở Liên Xô. Nó được gọi là Latin thoại 拉丁話 và rồi được phổ biến nhanh chóng tại Trung Quốc, đặc biệt là những khu vực do Cộng Sản kiểm soát. Chính quyền Quốc Dân Đảng vẫn tiếp tục giảng dạy Hán ngữ phồn thể. Tiếng Quan Thoại được chuẩn hóa để trở thành Quốc Ngữ đồng thời Latin thoại được chỉnh lý và cải danh thành Pinyin (Bính Âm) năm 1956. Pinyin được sử dụng khắp nơi như trong trường học, chỗ công cộng, v.v… với niềm hy vọng của nhà cầm quyền là nó sẽ trở thành một ngôn ngữ hẳn hoi. Đầu năm 1956, Hội đồng Chính phủ Bắc Kinh đưa ra một danh sách gồm 515 Hán tự giản thể, coi như bước đầu của một phương án giản hóa toàn diện. Chính quyền Đài Loan hết sức khó chịu thứ giản thể tự này và nghiêm cấm các văn hóa phẩm du nhập từ Trung Quốc vào Đài Loan không chỉ vì lý do chính trị mà còn vì e ngại sự phổ biến giản thể tự.

Xét về mặt ngữ học, tiếng Quan Thoại chỉ là một phương ngữ (a regional speech dialect). Cho dù được chấp nhận làm Quốc Ngữ nhưng nó chưa thể giải quyết những khó khăn lâu đời giữa khẩu ngữ hằng ngày với ngôn ngữ văn chương. Từ khoảng thế kỷ XII một số tác phẩm văn học chủ yếu là tiểu thuyết và ca kịch đã được viết bằng một văn phong bình dân giản dị. Giới nho sĩ và quan chức thường khinh miệt (hoặc giả vờ khinh miệt) các sản phẩm ấy vì văn ngôn 文言 mới là ngôn ngữ bắt buộc trong giới sĩ phu và quan trường, một ngôn ngữ mà người bình dân ít học không tài nào hiểu được. Người ta ngờ rằng việc duy trì sự khu biệt giữa khẩu ngữ bình dân (bạch thoại 白話) với văn ngôn dường như là một phương thức để bảo vệ giai cấp (a means of class protection) mặc dầu họ chẳng trưng dẫn được chứng cớ gì.

Mãi đến cuối Đệ Nhất Thế Chiến phong trào cách mạng văn học xảy ra, kêu gọi hãy lấy tiểu thuyết với văn phong bình dân giản dị làm mực thước và khuyến khích sử dụng bạch thoại trong việc viết lách. Về sau những người Cộng Sản hết sức ủng hộ phong trào này và cải danh bạch thoại thành phổ thông thoại 普通話 với giản thể tự 簡体字 và dùng song hành với Pinyin.

Như vậy, Pinyin có một quá trình phát triển khá dài, bắt đầu từ Latin thoại – một hệ thống được chế tác và phổ biến ở vùng cực Đông Liên Xô khoảng năm 1930 – rồi khoảng 4 năm sau được chấp nhận ở Trung Quốc với tên Tân văn tự 新文字. Quốc Dân Đảng phớt lờ Pinyin, nhưng Pinyin hết sức phổ biến ở vùng Tây Bắc Trung Quốc do Cộng Sản kiểm soát. Năm 1952 một ủy ban được thành lập để nghiên cứu cải cách văn tự. Đến năm 1958, Pinyin trở thành hệ thống phiên âm chính thức của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc.

SƠ LƯỢC CHỮ GIẢN THỂ

1. Khái quát

Bên cạnh Hán ngữ Latin hóa là Hán ngữ giản hóa (simplified Chinese characters). Sự giản hóa (simplification) có ưu điểm giúp việc viết chữ mau hơn vì giản lược số nét bút của những chữ nhiều nét, như chữ long 龍 (16 nét) giản thành 龙 (5 nét), chữ dụ 籲 (32 nét) giản thành 吁 (6 nét). Tuy nhiên người ta ngờ rằng mục đích của sự giản hóa nhằm vào phương diện chính trị hơn là phương diện ngữ học, bởi vì nhiều vấn đề ngữ học đã nảy sinh từ việc giản hóa này.

Thực chất sự giản hóa này cũng chẳng mới mẻ gì vì tự ngàn xưa người Trung Quốc đã biết cách giản lược số nét bút của chữ Hán, và tạo ra một thư thể gọi là thảo thư 草書 bao gồm chương thảo 章草, kim thảo 今草 và cuồng thảo 狂草 với các đại thư gia tiêu biểu như Trương Chi 張芝, Trương Húc 張旭, Hoài Tố 懷素 , và đặc biệt là thảo thánh nhị vương 草聖二王 tức cha con Vương Hi Chi 王羲之 và Vương Hiến Chi 王獻之. Thảo thư của nhị Vương đã trở thành chuẩn mực cho thế nhân nghiên tập kể từ đời Đông Tấn (317–420) đến nay và gọi là chương thảo 章草. Trương Húc và Hoài Tố được gọi là cuồng thảo nhị tuyệt 狂草二絕 hay điên Trương túy Tố 顛張醉素 (Trương Húc điên, Hoài Tố say). Nhưng thảo thư chỉ là một thư thể mang tính cách nghệ thuật và mức độ sử dụng cũng chỉ trong phạm vi giao tiếp thân quen (informal communication). Hầu hết trong công văn chứng từ người ta không được phép dùng thảo thư, mà phải dùng khải thư 楷書 còn gọi chữ chân 真. Như vậy giản thể tự hiện đại và chữ thảo truyền thống có những dị biệt như sau:

* Giản thể tự được dùng chính thức và có tính bắt buộc tại Hoa Lục trong mọi giao dịch giấy tờ, công văn, chứng từ, trong học đường, nơi công cộng, và trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ xưa đến nay thảo thư không được dùng với cách thức như trên, mà chỉ dùng trong thư từ thân mật, các tư liệu cá nhân, và chủ yếu là trong các tác phẩm thư pháp. Hiện nay không phải người Trung Quốc nào cũng đọc được chữ thảo.

* Người Trung Quốc kế thừa nguyên tắc của chữ thảo nhưng sáng tạo ra chữ giản thể gần như khác hẳn chữ thảo. Tuy vậy ta có thể thấy một số nét của giản thể tự là vay mượn ở chữ thảo, như bộ phận (讠) bên trái chữ ngữ 语 chính là một thảo phù 草符 thay cho ngôn 言, túc 足, thần , thất (sơ) 疋, vân , vong 亡 nhưng trong chữ giản thể nó chỉ thay cho ngôn 言 mà thôi. Chữ dữ 与 giản thể chính là vay mượn từ chữ thảo của dữ 與 phồn thể .

* Chữ giản thể ước chừng 1000 chữ nhưng mỗi chữ Hán đều có chữ thảo riêng.

* Mỗi chữ thảo cố gắng gói gọn trong một nét, nhất là cuồng thảo, nhưng chữ giản thể ít nét nhất là 2 nét và có 5 chữ là: xưởng 厂 (廠), bặc 卜 (蔔), nhi 儿 (兒) , kỷ 几 (幾), liệu 了(膫).

2. Nguyên tắc giản hóa Hán tự

Muốn nhận dạng giản thể nhanh và tương đối chính xác, ta cần nhớ nguyên tắc giản hóa như sau:

Giản hóa dựa trên sự đồng âm: Như chữ 里 /lĭ/ (dặm) phồn thể được dùng để giản hóa chữ 裏 (ở trong) trên cơ sở đồng âm. Tương tự, chữ diện 面 /miàn/ (mặt) phồn thể cũng là giản thể của miến 麵; chữ hậu 后 /hòu/ (hoàng hậu) phồn thể cũng là giản thể của hậu 後(phía sau).

Giản hóa dựa vào sự hội ý: Hội ý 會意 là một trong sáu cách tạo chữ (lục thư 六書) mà Hứa Thận 許慎 định nghĩa: «Tỉ loại hợp nghị, dĩ kiến chỉ huy.» 比類合誼以見指撝 (so sánh các loại cho hợp nhau mà chỉ ra ý nghĩa). Như chữ chiêm 占 gồm khẩu 口 (miệng) bốc 卜 (bói), hợp nghĩa là bói xem lành dữ. Dựa vào sự hội ý, chữ bảo 寶 nghĩa là quý báu được giản hóa thành 宝, gồm miên 宀 và ngọc 玉, ngụ ý trong nhà có ngọc tức là có của báu hay sự quý báu.

Giản hóa dựa vào sự hài thanh: Hài thanh 諧聲 còn gọi là hình thanh 形聲 cũng là một cách khác của lục thư mà Hứa Thận định nghĩa là: «Dĩ sự vi danh, thủ thí tương thành.» 以事為名取譬相成 (lấy sự làm tên, lấy thí dụ mà thành). Chữ cấu tạo bằng hình thanh hay hài thanh gồm một bộ phận chỉ nghĩa và một bộ phận chỉ âm, như chữ mộc 沐 /mù/ (tắm gội) lấy thủy 氵 chỉ nghĩa và mộc 木 /mù/ chỉ âm. Chữ ưu 優 /yōu/ (ưu tú) có bộ phận chỉ âm là ưu 憂 /yōu/ (ưu sầu) và đồng âm với vưu 尤. Ưu 憂 giản hóa thành 忧 nên 優 giản hóa thành 优.

Giản hóa bằng cách bỏ bớt một số nét: Như điện 電 (điện) giản thành 电, khai 開 (mở ra) giản thành 开. Vân 雲 (mây) giản thành 云. Chữ có những thành phần giống nhau như trùng 蟲 (côn trùng) giản thành 虫, ngoại trừ chữ tinh , sâm 森, phẩm 品, v.v…

Giản hóa bằng cách thay một nhóm nét bằng một vài nét: Như đoạn 斷 (cắt đứt), biên 邊 (biên giới), loạn 亂 (hỗn loạn) và lao 勞 (lao động) giản thành 断, 边, 乱, và 劳.

Giản hóa bằng cách tạo một phù hiệu thay cho nhiều nhóm nét khác nhau: Như phù hiệu 又 thay cho bộ phận bên trái của các chữ 鄧 (đặng: họ Đặng), 雞 (: gà), 戲 (: giỡn), 難 (nan: khó), 勤 (khuyến: khuyên bảo), 對 (đối: đúng, đối xứng) để có các giản thể tự 邓, 鸡, 戏, 难, 劝, 对. Phù hiệu 又 còn thay 鳥 (điểu: chim) và 堇 (cẩn: rau cần) trong chữ phụng 鳳 (chim phượng) và cận 僅 (chỉ có, nhưng) để giản thành 凤 và 仅.

Giản hóa bằng cách tạo hẳn chữ mới thật ít nét: Như linh (linh thiêng) và thể 體 (hình thể) bị thay thế bằng 灵 và 体.

3. Sự bất toàn của chữ Giản thể

Chẳng có một hệ thống văn tự nào mà không có sự bất toàn. Cho nên giản thể tự vẫn không tránh khỏi sự bất toàn dù rằng số lượng chữ chẳng có bao nhiêu. Sự giản hóa nảy sinh những khiếm khuyết và sự thiếu nhất quán của giản thể tự:

Vấn đề giả tá: Giả tá là rắc rối cố hữu của Hán tự mà Hứa Thận định nghĩa: «Giả tá giả, bản vô kỳ tự, y thanh thác sự.» 假借本無其字依 聲托事 (Giả tá là vốn chưa có chữ nhưng dựa vào âm thanh để gởi sự). Học giả đời Thanh là Du Việt 俞樾 từng cảnh giác rằng: «Độc cổ nhân thư, bất ngoại hồ chính cú đậu, thẩm tự nghĩa, thông cổ văn giả tá. Nhi tam giả chi trung, thông giả tá vưu yếu.» 讀古人書不外乎正句讀審字義通古 文假借而三者之中通假借尤要 (Đọc sách người xưa [cần chú ý] không ngoài [ba điều]: Đọc đúng [phạm vi] câu văn [tức là ngắt câu cho đúng bởi cổ văn viết không chấm câu, gọi là bạch văn 白文], tra xét đúng nghĩa chữ, và tinh thông chữ giả tá trong cổ văn. Trong ba điều ấy, tinh thông giả tá là tối quan trọng). Trong cổ tịch, đặc biệt là cổ tịch thời Tiên Tần Lưỡng Hán, hiện tượng giả tá xuất hiện đầy rẫy. Không thông thạo giả tá thì người đọc sẽ hiểu sai tự nghĩa. Kinh Dịch nơi quẻ Càn có câu 現龍在田 mà các nhà chú giải đều đồng ý chữ 現 hiện phải đọc là 見 kiến. 現 là giả tá tự của 見. Bản nghĩa của 見 là nhìn thấy và nó là giả tá nghĩa của 現. Bản kinh Dịch hiện hành còn ít chữ giả tá so với bản Bạch Thư Chu Dịch 帛書周易 (Chu Dịch viết trên lụa) mà người ta khai quật được ở ngôi Hán mộ số 3 tại Mã Vương Đôi 馬王堆 thuộc Trường Sa 長沙 (tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc) năm 1972-1974. Trong Luận NgữMạnh Tử ta còn thấy 說 là giả tá tự của 悅 và 由 là giả tá tự của 猶. Sơ lược về giả tá như trên để ta thấy rằng việc giản hóa tự trên cơ sở đồng âm đã sinh sôi thêm hiện tượng giả tá trong Hán ngữ hiện đại. Rõ ràng, 后 (hậu: hoàng hậu), 面 (diện: mặt), 里 (: dặm) là giả tá tự của 後 (hậu: sau), 麵 (miến: bánh mì, mì), 裏(: bên trong). Xét về mặt ngữ nghĩa học (semantics) mỗi chữ (tự 字) có ba yếu tố hình âm nghĩa 義 để khu biệt nhau. Thực chất có chữ lại đa hình, đa âm, và đa nghĩa vốn dĩ gây rối loạn cho người học thế mà sự giả tá ở giản thể tự lại làm nhoè đi thêm cái ranh giới hình và nghĩa của chữ khiến người học càng thêm loạn tâm rối trí.

Thiếu nhất quán: Giản thể tự bộc lộ sự thiếu nhất quán như sau:

* Nói chung ta có thể phỏng đoán chữ giản thể chưa biết nhờ một số chữ giản thể đã biết. Như 貝 (bối), 見 (kiến), 頁 (hiệt), 門 (môn), 車 (xa), 馬 (), 鳥 (điểu), thường giản thành 贝, 见, 页, 门, 车, 马, 鸟 cho dù đứng riêng thành chữ hoặc là bộ phận của một chữ. Ta đã biết 又 thay cho một bộ phận của các chữ 鄧 (đặng), 雞 (), 戲 (), 難 (nan), 勤 (khuyến), 對 (đối) để có các giản thể tự 邓, 鸡, 戏, 难, 劝, 对. Nhưng 又 lại không dùng thay cho 登 trong những chữ 凳, 澄, 磴, 瞪, 蹬, 簦, 鐙, đặc biệt 燈 thì giản thành 灯. Yếu tố 又 còn thay 堇 trong chữ 僅 để giản thành 仅 trừ các chữ 謹, 蓳, 瑾, 饉, 槿, 廑, 勤, 覲, 斳, 螼.

* Bộ phận chỉ âm 咼 giản thành 寸 hoặc 呙 hoặc giữ nguyên. Các chữ 過, 撾 giản thành 过, 挝; các chữ 渦, 窩, 蝸, 萵, 禍 giản thành 涡, 窝, 蜗, 莴, 祸; nhưng 騧, 緺 không giản gì cả.

* Ngược lại, một ký hiệu có thể thay cho nhiều nhóm nét như bộ phận bên trong các chữ 區, 風, 岡, 鹵 bị thay bằng ký hiệuㄨ để có các chữ giản thể là 区, 风, 冈, 卤.

* Bộ phận chỉ âm /o/ hay /u/ ở bên phải của các chữ 補, 僕, 撲 bị giản thành 卜 để được 补, 仆, 扑 vậy mà bộ phận chỉ âm trong các chữ 匍, 埔, 蒲, 濮, 璞 thì không bị giản.

* Chữ 親 giản thành 亲 nhưng chữ 襯 giản thành 衬.

* Các chữ 陽, 楊, 揚, 湯, 傷 có bộ phận chỉ âm (ở bên phải) giống nhau nhưng giản khác nhau: 阳, 杨, 扬, 汤, 伤.

Vấn đề bộ thủ: Bộ thủ là một yếu tố quan trọng của Hán tự, giúp việc tra cứu tương đối dễ dàng vì nhiều chữ được gom thành nhóm có chung một bộ thủ. Từ đời Hán, Hứa Thận phân loại chữ Hán thành 540 nhóm hay còn gọi là 540 bộ. Thí dụ, những chữ 論 (luận), 謂 (vị), 語 (ngữ) đều liên quan tới ngôn ngữ, lời nói, đàm luận v.v… nên được xếp chung vào một bộ, lấy 言 (ngôn: nói) làm bộ thủ. Đến đời Minh, Mai Ưng T 梅膺祚 xếp gọn lại còn 214 bộ thủ và được dùng làm chuẩn cho đến nay. Phần lớn các bộ thủ của 214 bộ đều là chữ tượng hình và hầu như dùng làm bộ phận chỉ ý nghĩa trong các chữ theo cấu tạo hình thanh (hay hài thanh). Mỗi chữ hình thanh gồm bộ phận chỉ ý nghĩa (hay nghĩa phù 義符) và bộ phận chỉ âm (hay âm phù 音符). Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ thủ là một điều kiện thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự. Tuy nhiên 214 bộ truyền thống này cũng có những điều bất hợp lý, và vài hệ thống bộ thủ cải cách đã ra đời chẳng hạn 132 bộ thủ của Lục Y Ngôn 陸衣言 và Giang Trọng Quỳnh 江仲瓊 phân loại Hán tự theo nét hay nhóm nét đầu tiên nên sự tra cứu rất nhanh chóng. Sự giản hóa Hán tự gây thêm rắc rối về bộ thủ:

* Bộ thủ bị thay đổi: 寫 (tả: viết; bộ 宀) giản thành 写 (bộ 冖) 護 (hộ: giúp; bộ 言) giản thành 护 (bộ 扌).

* Bộ thủ bị bỏ bớt: 電 (điện: điện lực) giản thành 电; 殺 (sát: giết) giản thành 杀; 術 (thuật: cách thức) giản thành 术.

* Bộ thủ cùng với vài nét khác bị bỏ bớt: 聲 (thanh: âm thanh) giản thành 声; 從 (tòng: theo) giản thành 从; 滅 (diệt: tiêu diệt) giản thành 灭.

* Bộ thủ mất vì trọn chữ bị thay trọn: 備 (bị: đầy đủ; bộ亻) giản thành 备; 農 (nông: nghề nông; bộ 辰) giản thành 农; 歲 (tuế: năm; bộ 止) giản thành 岁; 買 (mãi: mua; bộ 貝) giản thành 买; 關 (quan: quan hệ; bộ 門) giản thành 关.

Vậy thì sự giản hóa đã phớt lờ bộ thủ, nhưng hậu quả là người ta lúng túng khi tra một chữ mới mà không biết âm và nghĩa. Hầu hết các tự điển hay từ điển Hán ngữ tại Hoa Lục đều xếp các mục tự (entries) theo âm pinyin. Nếu không biết âm pinyin thì người tra đành chịu thua. Để gỡ rối, người soạn tự điển hay từ điển phải đính thêm các bảng tra theo tổng số nét, hoặc tra theo nét bút đầu tiên, và sau cùng phải miễn cưỡng kèm thêm bảng tra theo bộ thủ khoảng 189 bộ và rất khác với bảng tra 214 bộ truyền thống. Ngoài ra việc đếm nét của bộ thủ dễ bị lầm, như bộ thảo 艹 cũ đếm là 4 nét thì bộ thảo 艹 mới kể là 3 nét. Rồi tự điển hay từ điển cũng phải tra được cả giản thể lẫn phồn thể nên diệp (lá cây) giản thể 叶 thì cho vào bộ khẩu 口 còn diệp phồn thể 葉 thì cho vào bộ thảo 艹.

Nói gọn, việc giản hóa Hán tự có cả ưu lẫn khuyết. Nhưng con người còn chưa hoàn hảo được thì một sản phẩm do con người tạo tác cũng chỉ là hướng về sự hoàn hảo mà thôi. Thói quen và sự nhẫn nại sẽ giúp ta tinh thông hai thể giản và phồn.

LƯỢC SỬ CHỮ GIẢN THỂ

Sự giản hóa (simplification) chữ Hán do Nhà nước Trung Quốc tích cực đề ra ngay từ khi cầm quyền năm 1949 và chính thức công bố Hán Tự Giản Hóa Phương Án 汉字简化方案 vào tháng giêng năm 1956.

Thực tế, giản hóa Hán tự là một quá trình tiệm tiến từ lâu đời. Những chữ Hán giản hóa thường gọi là phá thể 破体, tiểu tả 小写, giản thể tự 简体字, giản dị tự 简易字, giản tự 简字, thủ tả tự 手写字, tục thể tự 俗体字, v.v… đối ứng với chữ nguyên thể đầy đủ nét là phồn thể tự 繁体字. Chữ giản thể đã xuất hiện trước thời Nam Bắc Triều 南北朝 (420-581); đến đời Đường 唐 (618-907) và Tống 宋 (960-1279) thì dần dần tăng thêm và phần lớn lưu hành trong dân gian. Trong các tác phẩm thư pháp cổ đại, những bia khắc, ván khắc in khai quật được, và trên mặt các chuông đồng cổ đại người ta có thể thấy lác đác một vài chữ giản thể thông thường như: , vạn, quốc, vân, lễ, khí, môn, vi , bảo, la, lưu, hoan, nan, tề, đương (đang), hội , phong, loạn, biện, thính, tòng, chúng, vô, v.v…

Như vậy từ giáp cốt văn 甲骨文 cho đến chữ khải 楷 mà ngày nay chúng ta đang dùng, xu hướng diễn biến của Hán tự hơn 3000 năm qua là từ phức tạp đến giản dị. Bảng chữ giản thể hiện hành do Nhà nước Trung Quốc quy định chẳng qua là kết quả của sự hệ thống, chỉnh lý và bổ sung các chữ giản thể đã lưu hành từ lâu trong dân gian.

Những năm Dân Quốc đầu tiên, một số học giả như Lục Phí Quỳ 陆费逵, Tiền Huyền Đồng 钱玄同, Lục Cơ 陆基, Lê Cẩm Hy 黎锦熙, Dương Thụ Đạt 杨树达, Trần Hạc Cầm 陈鹤琴, Hồng Thâm 洪深, Trần Vọng Đạo 陈望道, v.v… đã đề xướng dùng chữ giản thể vì sự tiện lợi của nó. Tháng 8 năm 1935, Bộ Giáo Dục của chính phủ Quốc Dân Đảng (国民党政府教育部) công bố một bảng kê các chữ Hán giản thể gọi là Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批简体字表 gồm 324 chữ. Đây là lần thứ nhất chữ giản thể được chính thức ban hành. Nhưng giới văn nhân học giả cực lực phản đối chữ giản thể cho nên tháng 2 năm 1936 bảng kê chữ giản thể bị phế bỏ sau 6 tháng ban hành. Tuy nhiên trong dân gian nhiều người vẫn thích dùng chữ giản thể để viết chữ cho nhanh. Trong thời chiến tranh kháng Nhật, khu vực giải phóng do Đảng Cộng Sản Trung Quốc lãnh đạo, chữ giản thể được lưu hành và nhiều chữ mới được tạo thêm.

Đến năm 1949, khi nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa thành lập, Đảng và chính phủ càng coi trọng công tác giản hóa Hán tự, nên đề ra phương án giản hóa chữ Hán gọi là Hán tự giản hóa phương án 汉字简化方案. Năm 1950, Ty Giáo Dục Xã Hội thuộc Bộ Giáo Dục của Chính Phủ Nhân Dân Trung Ương (中央人民政府教育部社会 教育司) biên soạn Thường dụng giản thể tự đăng ký biểu 常用简体字登记表 gồm 555 chữ Hán giản thể thông dụng. Sau khi trưng cầu dân ý, năm 1951 chính phủ ban hành một bảng kê các chữ Hán giản thể gọi là Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批简体字表 gồm 555 chữ (khác với bảng kê trước đây vào năm 1935 của Bộ Giáo Dục thuộc chính phủ Quốc Dân Đảng, chỉ có 324 chữ).

Ngày 5 tháng 2 năm 1952, Trung Quốc văn tự cải cách nghiên cứu ủy viên hội 中国文字改革研究委员会 được thành lập. Trên cơ sở Đệ nhất phê giản thể tự biểu 第一批简体字表 , tổ chức này đã nhiều lần thảo luận và tu sửa, để rồi đến năm 1954 một phương án dự thảo được đưa ra gọi là Hán tự giản hóa phương án (thảo án) 汉字简化方案(草案) bao gồm ba điểm: 1. Dự thảo 798 chữ giản thể; 2, Đề nghị phế bỏ 400 chữ dị thể 异体字; 3. Dự thảo giản hóa các chữ Hán thiên bàng 偏旁 (tức là chữ Hán làm bộ phận đứng một phía của chữ).

Tháng 12 năm 1954, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội 中国文字改革委员会 (trực thuộc Quốc Vụ Viện 国务院) được thành lập để chuyên trách công tác giản hóa Hán tự (tổ chức này đến ngày 16 tháng 12 năm 1985 thì đổi tên là Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội 国家语言文字工作委员会). Ngày 13 tháng 7 năm 1955, Quốc Vụ Viện thành lập Hán tự giản hóa phương án thẩm đính ủy viên hội 汉字简化方案审订委员会 để đánh giá phương án giản hóa chữ Hán. Tháng 9 năm 1955, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội 中国文字改革委员会 đề xuất một bản tu chính thảo án, trong ba điểm nêu ra trước đây thì bỏ hai điểm sau, còn điểm thứ nhất (là đề nghị 798 chữ Hán giản thể) nay rút xuống còn 512 chữ, ngoài ra thêm 56 chữ Hán thiên bàng 偏旁.

Từ ngày 15 đến 23 tháng 10 năm 1955, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hộiBộ Giáo Dục liên kết mở ra hội nghị toàn quốc về cải cách văn tự (gọi là Toàn quốc văn tự cải cách hội nghị 全国文字改革会议) để thảo luận và tu chính thảo án. Kết quả là 512 chữ giản thể tăng lên là 555 chữ và 56 chữ Hán thiên bàng 偏旁 giảm xuống còn 54 chữ.

Sau khi có được sự thẩm định và hiệu đính của Hán tự giản hóa phương án thẩm đính ủy viên hội, ngày 28 tháng 01 năm 1956 Quốc Vụ Viện đã mở hội nghị khoáng đại lần thứ 23 để thông qua Hán tự giản hóa phương án. Ngày 31 tháng 01 năm 1956, Nhân Dân Nhật Báo đăng nghị quyết của Quốc Vụ Viện về việc công bố Hán tự giản hóa phương án (nhan đề bài báo là: Quan vu công bố «Hán tự giản hóa phương án» đích quyết nghị 关于公布 «汉字简化方案的» 决议) đồng thời đăng Hán tự giản hóa phương án 汉字简化方案 gồm 555 chữ giản thể và 56 chữ Hán thiên bàng.

Tháng 5 năm 1964, Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội xuất bản Giản hóa tự tổng biểu 简化字总表, gồm ba bảng biểu: Biểu 1 gồm 352 chữ giản hóa không làm bộ phận thiên bàng cho chữ khác; biểu 2 gồm 132 chữ hoặc đứng riêng hoặc làm bộ phận thiên bàng cho chữ khác và 14 chữ chỉ làm thiên bàng; bảng 3 gồm 1754 chữ khai triển từ bảng 2. Như vậy tổng biểu có 2238 chữ giản thể.

Trong thời Cách mạng Văn hóa (thường gọi là Văn Cách 文革), Trung Quốc văn tự cải cách ủy viên hội buộc phải đình chỉ, đến năm 1972 mới khôi phục công tác. Tháng 5 năm 1975, tổ chức này đề ra một thảo án mới gọi là Đệ nhị thứ Hán tự giản hóa phương án (thảo án) 第二次汉字简化方案(草案), gởi cho Quốc Vụ Viện thẩm duyệt. Sau đó, ngày 20 tháng 5 năm 1977, tổ chức này lại gởi tiếp một báo cáo để xin ý kiến nói về thảo án trên, nhan đề: Quan vu «đệ nhị thứ Hán tự giản hóa phương án (thảo án)» đích thỉnh thị báo cáo 关于 «第二次汉字简化方案(草案)» 的请示报告.

Ngày 31 tháng 10 năm 1977, Quốc Vụ Viện chỉ đạo cho đăng tải đệ nhị thứ Hán tự phương án (thảo án) này trên các nhật báo của tỉnh, thành, khu tự trị để trưng cầu ý kiến của quảng đại quần chúng, của các giới công, nông, binh và nhân sĩ. Nhưng thảo án 2 này không được nghiên cứu chu đáo và do đó bị phản đối kịch liệt. Thí dụ: Chữ 舞 giản thành 午 (ngọ), khiến vũ hội 舞会 bị hiểu nhầm là ngọ hội 午会 (hội nghị lúc trưa) bởi vì cả hai đều pháy ấm là /wǔhùi/; chữ linh 齡 (trong niên linh 年齡: tuổi tác) giản thành 令 (lệnh), khiến quân linh 軍齡 (tuổi lính) /jūnlíng/ dễ bị hiểu nhầm là quân lệnh 军令 /jūnlìng/, chữ bang 幫 (trong bang trợ 幫助, bang phái 幫派) giản thành bang 邦 (đồng nghĩa với quốc 國); ba chữ phó, phó, phụ 腐 (trong phó thực 副食, phó nghiệp 副業, phó chức 副職, sư phó 師傅, đậu phụ 豆腐) đều giản thành phó 付; chữ đình 停 (trong đình chỉ 停止) giản thành 仃 (đinh), nhầm với đinh trong linh đinh 伶仃; v.v…

Thảo án 2 gây thêm hỗn loạn trong chữ Hán. Do đó ngày 4 tháng 3 năm 1978, các học giả Vương Lực 王力, Hồ Dũ Chi 胡愈之, Chu Hữu Quang 周有光 và 20 học giả nổi tiếng khác đã yêu cầu Quốc Vụ Viện phế bỏ thảo án 2. Mãi đến ngày 24 tháng 6 năm 1986, Quốc Vụ Viện ra thông tri phế bỏ thảo án 2.

Sau khi thảo án 2 bị phế bỏ, chữ giản thể vẫn bị dùng hỗn loạn, ngoài những chữ được quy định, dân gian còn tự sáng tạo thêm chữ mới rất tùy tiện. Cho nên vào các ngày 27 tháng 3, 01 và 10 tháng 4 năm 1978, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội liên tiếp phát ba thông tri: 1/. thông tri quy định viết các địa danh; 2/. thông tri quy định sử dụng chữ Hán trên truyền hình, radio, trong điện ảnh; 3/. thông tri quy định sử dụng chữ Hán trên các bảng hiệu tiệm buôn, bảng hiệu công ty, thương tiêu, bao bì sản phẩm, quảng cáo.

Ngày 24 tháng 6 năm 1986, Quốc Vụ Viện ra thông tri yêu cầu các nhật báo lớn như Nhân Dân Nhật Báo 人民日报, Quang Minh Nhật Báo 光明日报 đăng lại Giản hóa tự tổng biểu 简化字总表. Ngày 10 tháng 10 năm 1986, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội điều chỉnh lại Giản hóa tự tổng biểu năm 1964, và tổng biểu mới gồm có 2235 chữ.

Ngày 26 tháng 01 năm 1988, Quốc gia ngữ ngôn văn tự công tác ủy viên hội Quốc gia giáo dục ủy viên hội công bố Hiện đại Hán ngữ thường dụng tự biểu 现代汉语常用字表 gồm 3500 chữ Hán thường dùng hiện nay, trong đó có 1116 chữ giản hóa (chiếm 31.9 %).

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , | Leave a Comment »

MẪU CÂU DỊCH

Đăng bởi tuantdt on 2009/07/26

(Copy từ net.)

Một số mẫu câu dịch, mọi người tham khảo nha…

1, Hòa nhập vào 融入 …

我国是如何融入经济全球化的? >> hòa nhập kinh tế 经济融合

2, Tương tự như… 跟…相似/差不多 – 类似…

国货的质量根洋货的差不多。

3, Khác xa với… 大大不同于…/与…截然不同

今年的天气大大不同于往年

Khác nhau xa 相差很远/差得很远/(悬殊)远远超过…

求购者数量远远超过了出售房源的登记数量。

4, Quá độ lên, vượt lên…từ… 向…超过…/从…过渡到….

2007年越南向中国出口橡胶超过7亿美元。

5, Hàng ngoại đổ vào… 洋货(大举)涌入/打入/进入….

国内产能不足洋货大举涌入。

诸种洋货已经打入了中国的市场。

6, Đóng góp vào 为…做出贡献/献策出力

A đóng góp vào B – A为B做出贡献/奉献

改革开放20年越南为世界做出积极贡献。

Đóng góp nhỏ bé cho 为…贡献作出一份力量 / 为…添砖加瓦(tian zhuan jia wa)

让朋友为你添砖加瓦

7, Tạo điều kiện cho… 为…创造/提供顺利条件

中国将为外商投资创造更好条件。

为外商投资生活创造更好条件。

中国将为外商来华投资创造更有利条件。

Tạo cơ may cho… 为…创造/提供机会

Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài trở lại 为引进/吸收外资….提供方便

8, Nhanh chóng tiếp cận với… 尽快向…靠拢/与…接轨,接近

尽快向现代物流模式靠拢。

9, Tỏ lòng chân thành với… 向…表示感谢/谢意 / 向…道谢

别人向你表示感谢,用什么词回答更好一些呢?

10, Có đầy đủ những yếu tố… 具备…要素

网上求职成功需具备六大要素。

Có đầy đủ tư cách 具备资格

11, A tùy thuộc vào B – A受B的制约/支配 – A取决于B – A由B来决定

下半年物价取决于秋粮收成。

12, Điểm xuyết bởi… 景观把…点缀得更加好看 / B点缀着A

无声地点缀着爱。

它点缀着这片森林。

A在B陪衬下…

天池在绿色的陪衬下让人心醉。

AB互相映衬 / AB交相辉映

13, Nổi bật nhất là… 最打眼的是… / 最显眼的是… / 最醒目的是… / 最突出的是…

春天到了,穿什么?怎么穿?打造最打眼的风格美女。

14, Không thể coi thường vai trò… 不能忽视…作用 / …作用不能等闲之视

15, A để lại trong lòng B A在B的心里/心目中/头脑里留下…

在你心里留下一滴眼泪。

A给B留下…印象(纪念)

如何给人留下深刻印象。

A对B的印象…

我对他印象很深刻

B,A还留有印象…

越南,还留有的那么一点点印象。

16, Chuẩn bị – A chuẩn bị cho B – A为B做好准备

一个没有为未来做好准备的国家将会发现自己的人民劳碌一生。

A为B筹划准备

Chuẩn bị vốn liếng 筹集资金(筹资)/ Chuẩn bị tiết mục 酝酿节目 / Chuẩn bị nội dung 酝酿内容 / Chuẩn bị kỹ 酝酿成熟 / Chuẩn bị đầy đủ 酝酿得很充分/充分准备

17, Giao…cho …nắm giữ 把…交给….把握/掌握

18, Vượt lên trên 高出…之上学佛人应高出平人之上。/ 超过… / 越过… / 超越过… / 凌驾…之上我要凌驾阶级之上。

19, Gắn liền, không tách rời …与…分不开 / 离不开 / 密不可分 / 紧密地联系在一起 / 割裂不开来

喜欢你已经与你分不开。

A gắn với B 把…跟…结合在一起/结合起来

为何要把经济增长与摆脱贫困结合在一起。

20, A tỉ lệ nghịch (thuận) với B – A与B构成反(正)比例

人们总说付出与收获是成正比的。

21, Bù thiếu hụt… 弥补…短缺

我国将推行洪水资源化弥补水资源严重短缺状况

22, Thảo luận vấn đề… 就…问题进行讨论

联合国安理会4日就中东问题进行讨论

23, Trút trách nhiệm cho…(người khác) 把 / 将…责任推到(别人)

基金公司在这次大跌中趁机作恶,却企图将责任推到“中国平安”身上。

>>>

1. Hòa nhập vào 融入 …

Phải đặc biệt chú ý tân ngữ nó kèm theo với động từ đó.

Ví dụ: hòa nhập thế giới = 融入国际社会 / Hòa nhập văn hóa = 渗入文化 / Hòa nhập kinh tế = 融入世界经济 / Hòa nhập cộng đồng = 与社会相处

2. A đóng góp vào B

A为B做出贡献/奉献 chỉ thường nghe: A为B做出贡献。

奉献 phải nói: A 奉献给B hoặc: A 把 ….奉献给 B

3. Đóng góp nhỏ bé cho 为…贡献作出一份力量

phải nói lại: A 为 B 贡献一份力量, hoặc: A 为B 做出一份力量

>>>

nhận lời mời của… 应….的邀请

thăm chính thức…… 对….进行正式访问

应我国总理的邀请,中国国务院总理对我国进行正式访问

trên cương vị: 以…的名义/资格/身份

温家宝总理 首次以总理身份对越南访问

góp phần: 为…做出贡献

củng cố và tăng cường hơn nữa: 进一步巩固与加强

进一步巩固与加强两国之间的全面合作关系

trong các lĩnh vực 在…等领域中

cảm ơn sự…mà…đã dành cho 向….对…所给予的…表示高兴

>>>

24, Trút trách nhiệm cho…(người khác) 把/将…责任推到(别人)

基金公司在这次大跌中趁机作恶,却企图将责任推到“中国平安”身上

25, Tính riêng trong năm (thời kỳ)… 仅在…年(时期)

26, Tạo ra những tiền đề, nền móng…để… 奠定…基础以… / 打下….基础…. / 创造…基础…

政府在奠定市场基础以引导形成合理的分配结果上一直无所作为

27, Thực hiện chính sách… 落实/实施/实现…政策

关于落实环保政策法规防范信贷风险的意见。

灵山落实政策促进母猪养殖发展。

28, Ban hành chính sách… 出台/颁布…政策

浙江省出台新政策保障“菜篮子”稳定供应

29, Trả giá 付出…代价

付出鲜血的代价。

30, Chuyển trọng điểm… sang… 把…重点转到…上来

把发展重点从注重数量转到提高质量上来

31, Cam kết (nhận lời ) 许下…承诺

不要轻易说爱,许下的承诺欠下的债

32, Nhận lời mời…

应…邀请外交部今宣布,应胡锦涛邀请,法国总统希拉克9月25至28日

Nhận lời mời đến dự 应邀出席 / Nhận lời mời đi đến 应邀前往 / Nhận lời mời dự lễ应邀观礼

33, Thu hẹp khoảng cách 缩小/缩短…差距/距离

缩短贫富差距。

收缩…范围

34, Đánh đổi lấy… 以…为代价

为爱付出巨大代价的星女

35, Áp đặt …cho… 把/将…强加给/强加于…

法官不能将自己的意见强加于陪审员

36, (cuối cùng) thực hiện nguyện vọng (终于)实现…愿望 / 了却…愿望

37, Trong cuộc phỏng vấn với… 接受….访问/采访/专访

38, Tiếp xúc (làm việc) với 跟…相见

39, Xây dựng

Xây dựng phong cách 树立…风格

Xây dựng con người 造就…的人

Xây dựng kế hoạch 订…计划

Xây dựng lịch sử 缔造…历史

Xây dụng thương hiệu 树立…商标

40, Với danh nghĩa 以…名义(个人,口语)/ 以…岗位上(单位,书面语)

41, Mở ra tương lai… 打开/开创….未来

42, Nhân dịp… 趁着…(之际)

43, … đã và sẽ tiếp tục… …已经并继续…

44, Trong…中,在…中(上,内,方面)

Trong lòng 心中 / Trong cuộc sống 在生活中 / Trong lịch sử 在历史上 / Trong thời gian…ngày 在…天的时间内

Tin trong và ngoài nước国内外的新闻

45, Trốn tránh sự kiểm soát của… 回避受…(的)抑制

回避受经济政策抑制的行业,将可能取得良好投资收益。

46, Nổi tiếng nhờ vào… 以… 著称

西双版纳以风景秀丽而著称。

以四季如春著称的昆明,今年五月迎来了万国园艺博览会。

47, Nhân dịp… 趁着…. 机会 / 在… 之际

48, Đánh giá cao đối với… 对… 给予高度评价

总统对他们在外交领域所取得的成果给予高度评价。

49, Mời đến thăm (quốc gia) 邀请… 访问

他邀请总理在方便的时候来我国访问。

50, Xây dựng trên…(trừu tượng) 建立在… 之上

我们的调查工作要建立在广泛的基础之上。

Đăng trong Uncategorized | Tagged: , , , | Leave a Comment »